Showing posts sorted by date for query NGUYỄN KHẮC NHƯỢNG. Sort by relevance Show all posts
Showing posts sorted by date for query NGUYỄN KHẮC NHƯỢNG. Sort by relevance Show all posts

2702. TRƯƠNG VŨ Vị trí của SÁNG TẠO trong sự phát triển văn học Miền Nam sau 1954



TRƯƠNG VŨ
Vị trí của SÁNG TẠO
trong sự phát triển
văn học Miền Nam sau 1954

(Bài viết này đã được tác giả trình bày
tại cuộc hội thảo HAI MƯƠI NĂM VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975
tổ chức tại Nam California – Tháng 12.2014)

Trương Vũ  (Ảnh PCH – 2013)



Tháng 10 năm 1956, tạp chí Sáng Tạo ra đời, đóng góp vào sự phát triển của nền văn học miền Nam vào một giai đoạn đầy biến động của đất nước. Trong suốt hơn 20 năm, từ 1954 đến 1975, có rất nhiều nỗ lực khác nhau, cá nhân hay tập thể, trong hay ngoài văn giới, đóng góp vào sự phát triển này. Thế nhưng, đóng góp của Sáng Tạo, như một tạp chí, một vận động văn học, và như một tập thể, vẫn có một tính cách đặc biệt, và giữ một vai trò quan trọng.

Những trình bày sau đây nhằm nhìn lại và đánh giá vị trí đặc biệt đó của Sáng Tạo trong sự phát triển của văn học miền Nam sau 1954.


MIỀN NAM TRƯỚC KHI SÁNG TẠO XUẤT HIỆN

Để nhận định công bình và đứng đắn về vị trí của Sáng Tạo, không thể không nhìn lại bối cảnh của miền Nam trước khi tạp chí này ra đời. Một bối cảnh chằng chịt với những biến cố dồn dập tại Việt Nam, cùng lúc với những đổi thay vùn vụt trên thế giới.

Miền Nam, một bộ phận quan trọng của Quốc Gia Việt Nam, cho đến 1954 vẫn chưa thật sự là một quốc gia độc lập. Quân đội được đặt dưới quyền chỉ huy tối cao của bộ tổng tư lệnh Pháp. Các giáo phái có quân đội riêng, kiểm soát một số địa phương riêng. Lực lượng Bình Xuyên nắm công an cảnh sát, làm chủ sòng bạc Kim Chung và khu ăn chơi Đại Thế Giới. Dinh Độc Lập, biểu tượng cho uy quyền quốc gia, trực thuộc Cao ủy Pháp. Viện Đại Học cũng do người Pháp quản lý.

Một khúc quanh lớn của lịch sử bắt đầu vào tháng 7 năm 1954 khi hiệp định đình chiến Genève được ký kết, chia đôi đất nước dọc vỹ tuyến 17. Chỉ một tháng sau đó, cuộc di cư của gần một triệu đồng bào miền Bắc bắt đầu. Tháng Chín, Pháp giao trả Dinh Ðộc Lập về chính phủ miền Nam. Tháng Mười, lực lượng Pháp rút ra khỏi Hà Nội. Tháng 12, Hoa Kỳ tuyên bố viện trợ cho miền Nam. Tháng Giêng năm sau, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ra lệnh đóng cửa sòng bạc Kim Chung và khu ăn chơi Ðại Thế Giới. Tháng Tư, chính phủ miền Nam dẹp tan lực lượng Bình Xuyên và thống nhất quân đội. Cũng trong tháng Tư, Viện Ðại Học được Pháp chuyển giao. Tháng Bảy, Chủ tịch Hồ Chí Minh công du Trung Quốc, Liên Xô và tiếp nhận viện trợ của hai nước này. Tháng Mười, Thủ tướng Ngô Ðình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế Quốc trưởng Bảo Ðại, thành lập Việt Nam Cộng Hòa. Tháng 12 năm đó miền Bắc cho thi hành chính sách cải cách điền địa và mở chiến dịch đấu tố địa chủ trước các tòa án nhân dân.

Tháng Hai năm 1956, tại Ðại hội Cộng sản lần thứ 20, Khrushchev kịch liệt đả kích cá nhân và sai lầm trong chính sách của Stalin. Tháng Sáu, chính phủ miền Nam tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Cũng trong tháng đó, thợ thuyền ở Poznan (Ba Lan) biểu tình bạo động, bị lực lượng nội an thẳng tay đàn áp. Tháng Bảy, Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez. Tháng l0 năm đó, cuộc chiến giữa Ai Cập với Do Thái và Anh-Pháp xảy ra. Ðồng thời, cuộc các mạng Hung Gia Lợi bùng nổ.

Những biến cố trên đây, cùng với nhiêu biến cố dồn dập khác, ảnh hưởng mạnh vào tâm tư các thành phần thanh niên và trí thức trẻ ở miền Nam, đặc biệt là thành phần mới di cư từ miền Bắc. Những sự kiện mang ảnh hưởng tiêu cực từ phe xã hội chủ nghĩa đã củng cố niềm tin vào sự chọn lựa chính trị và vào đời sống con người ở vùng đất mới của quê hương. Thanh niên miền Nam cũng choàng tỉnh sau một thời gian sống khá lặng lẽ giữa những mâu thuẫn về lý tưởng và thực tế phát sinh từ biến động Mùa Thu 1945. Sự va chạm giữa đồng bào miền Nam với đồng bào di cư từ miền Bắc hay những đồng bào trở về từ các vùng do Việt Minh kiểm soát chỉ xảy ra trong một thời gian rất ngắn, sau đó lại là những hội nhập vừa có tính bổ sung vừa có tính kích động. Những mặc cảm lệ thuộc trước đây cũng không còn nữa. Những ý thức mới trong văn học và nghệ thuật và không khí hồi sinh của thế giới phương Tây sau thế chiến bắt đầu đánh thức họ.

Trong khi đó, ở lãnh vực văn học nghệ thuật và báo chí, miền Nam có một hụt hẫng rõ rệt. Tờ tạp chí có nhiều ảnh hưởng đối với thành phần trí thức và thanh niên Sài Gòn là tờ Ðời Mới của Trần Văn Ân, với sự cộng tác của Hồ Hữu Tường, Nguyễn Ðức Quỳnh, thì vì liên hệ của các ông Ân, Tường với nhóm Bình Xuyên nên bị đóng cửa. Mà thật ra, đến thời điểm đó, nội dung Ðời Mới cũng không còn thích hợp với những suy nghĩ mới của quần chúng. Một số nhà văn miền Nam được ưa chuộng như Vũ Anh Khanh chẳng hạn, thì ra Bắc tập kết (l). Nhà văn được trọng vọng như Nhất Linh thì hoàn toàn im lặng. Lớp trẻ học bài nói về ông ở trung học rất hâm mộ ông, không hề biết là ông đang ở đâu. Nhà văn Ðỗ Ðức Thu làm chủ tịch Văn Bút Việt Nam nhưng chẳng có sinh hoạt hay công trình sáng tác văn học nào đáng kể. Cho đến nay, chẳng mấy ai nhớ là vào lúc đó ông làm những gì.

Trong một hoàn cảnh như vậy, một bên là không khí sôi động về tâm lý và xã hội nơi quần chúng và nhất là nơi giới trẻ, một bên là thái độ lặng lẽ nơi đa số trí thức và văn nghệ sĩ đã thành danh, tạp chí Sáng Tạo ra đời. Thật ra, vào lúc đó, cũng có một số nỗ lực tương tự xuất hiện, như trường hợp của các tạp chí Mùa Lúa Mới hay Thế Kỷ Hai Mươi, nhưng chỉ được vài số và ảnh hưỡng không đáng kể. Chỉ có sự xuất hiện cũng như cách xuất hiện của Sáng Tạo mới có thể được xem là “điểm đổi hướng” trong sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam.

Ðiều đáng để ý là cũng vào thời điểm này, miền Bắc chứng kiến sự bùng nổ của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. Không biết những phản ứng của văn nghệ sĩ và trí thức đối với thực tại ở hai miền chỉ là ngẫu nhiên hay thật ra, cả hai đều chịu sức đẩy chung của thời đại và lòng khao khát đưa nghệ thuật vươn tới trước. Thế nhưng, nhìn sâu hơn, cách dấn thân của văn nghệ sĩ và trí thức ở hai miền quả có khác nhau, và, như mọi người đều biết, phản ứng của quần chúng và, đặc biệt, của giới cầm quyền thì hoàn toàn trái ngược.


ĐÓNG GÓP CỦA SÁNG TẠO

Số đầu tiên của Sáng Tạo ra mắt vào tháng 10 năm 1956. Trước đó, những khuôn mặt chính của Sáng Tạo như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyên, Duy Thanh, Ngọc Dũng v.v... đã có một số công trình tạo cho họ một vị trí khá đặc biệt trong văn học và nghệ thuật ở miền Nam. Mai Thảo xuất bản “Ðêm Giã Từ Hà Nội” vào năm 1955. Duy Thanh, Ngọc Dũng đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm hội họa. Thanh Tâm Tuyền đã hoàn thành tạp thơ tự do “Tôi Không Còn Cô Ðộc” và ra mắt cũng trong tháng 10 năm đó.

Người chủ trương cũng là người đứng đầu nhóm Sáng Tạo là nhà văn Mai Thảo, lúc đó chưa tới 30 tuổi. Trong một bài viết trên báo Văn (Sài Gòn) vào 1970, Mai Thảo có ghi lại về thời kỳ này như sau:

Bấy giờ là vào khoảng hai năm 1956-1957. Những dấu chân một triệu của vượt tuyến kín trùm đất nước, vừa đặt xuống những ruộng đồng và những rừng núi mênh mông bát ngát của miền Nam. Những hành trình trong đêm tấp nập cặp bến lúc ngày dựng. (...) Lịch sử và chuyển đổi tàn nhẫn đột ngột của thời thế đẩy trọng tâm đời sống từ một vùng trời này tới một vùng biển khác. Nhưng cái hướng xô đẩy đích thực là từ sau lưng đẩy về trước mặt, quá khứ đẩy vào tương lai. (...) Không khí cũ, không thở cùng được nữa. Nhưng khuôn vàng thước ngọc xưa không còn đo lường được những kích thước bây giờ. Và đời sống là đi tới. Không lùi, không giậm chân một chỗ.

Trong một thực tại đầy đặc những chất liệu của sáng tạo và phá vỡ như vậy, văn học nghệ thuật mặc nhiên không thể còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực. Mà vươn phóng từ một thoát ly để đưa tới một hình thành, hóa thân từ một chặt đứt, bằng những thí nghiệm và những khám phá, chứng minh rằng cái bây giờ ta đang sống tuyệt đối không còn một đồng dáng một đồng tính nào với cái hôm qua đã tách thoát đã lìa xa. Chất nổ ném vào. Cờ phất. Xuống núi, xuống đường. Ra biển ra khơi. Và cuộc cách mạng tất yếu và biện chứng của văn chương đã bắt đầu.” (2)

Trong suốt 31 số liên tiếp, Sáng Tạo đã không ngừng cổ võ cho những thí nghiệm và khám phá trong nghệ thuật. Ðiển hình nhất cho những thí nghiệm và khám phá này là những sáng tác của Thanh Tâm Tuyền và Duy Thanh.

Thanh Tâm Tuyền xuất hiện như một hiện tượng trong thi ca. Ông được đón nhận khá vồn vã. Có thể vì là hiện tượng hơn là sự cảm nhận thật của độc giả đối với thơ của ông. Nhu cầu có một cái gì mới quá lớn vào thời kỳ đó. Cả một thời gian dài, khi nói đến sự khám phá hay phá vỡ trong văn học, người ta nghĩ đến Thanh Tâm Tuyền hơn là Mai Thảo. Mặc dầu Mai Thảo đứng đầu nhóm Sáng Tạo và chủ trương khám phá trong nghệ thuật với tất cả nhiệt tình, văn của ông và cả thơ của ông cũng không hàm chứa một phá vỡ thật sự như vậy. “Ðêm Giã Từ Hà Nội” của Mai Thảo là tác phẩm đầu tiên và cũng là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, không có tính phá vỡ đó. Nhiều bài thơ của ông khá hay. Cũng không có tính phá vỡ đó. Trong một bài thơ ông chép tặng cho Ðinh Cường vào 1956, có những câu như thế này:

Tôi đứng hoàng hôn trong cửa tối
Nhìn người bình minh vào cuộc đời
Người đi ánh sáng qua đêm tối
Người đi ánh sáng qua thời gian
(MT: Ngày Mai Vui)

Thanh Tâm Tuyền hoàn toàn khác. Ông đến với độc giả Việt Nam, đa số vào lúc đó chỉ quen thuộc với cách làm thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, hay những nhà thơ tiền chiến nói chung, một cách đột ngột, vừa phũ phàng vừa hấp dẫn. Bằng những câu như:

một câu thơ hay tự nhiên như lời nói
bài thơ hay là cái chết cuối cùng

giã từ cái giường cái bàn cái ghế
một người hai người và ba người

một người hai người và ba người
(TTT: Ðịnh Nghĩa Một Bài Thơ Hay)

hay:

tôi thèm giết tôi
loài sát nhân muôn đời
tôi gào tên tôi thảm thiết
thanh tâm tuyền
bóp cổ tôi chết gục
để tôi được phục sinh
(TTT: Phục Sinh)

Những bài thơ của ông, cùng với cách trình bày những bài thơ đó trong Sáng Tạo, quyến rũ nhiêu độc giả. Hiểu được hay không, cảm được hay không, qua thơ Thanh Tâm Tuyền, họ bắt đầu tin rằng thi ca có một cái cõi khác, ngoài cái cõi thi ca mà họ vốn biết. Ðiều đó khích động sự tìm tòi của nhiều người. Những người mới làm thơ sợ những nét ước lệ hơn trước. Ðồng thời, miền Nam cũng bắt đầu có nhiều thi sĩ làm thơ thật lạ lùng, so với trước đây. Có nhiều bài thơ hay cũng như có rất nhiều bài thơ dở. Thơ dở không ai nhớ, nhưng những bài thơ hay đã làm giàu cho nền văn học ở miền Nam, thật ra còn khá nghèo so với nhiều nền văn học khác trên thế giới.

Một điều cần ghi nhận là mặc dầu thường được nói đến như một nhà thơ, Thanh Tâm Tuyền viết nhiều truyện dài đặc sắc. Truyện đầu tay là “Bếp Lửa”, xuất bản năm 1957, lúc ông hai mươi mốt tuổi.

Duy Thanh là một họa sĩ, cùng với các họa sĩ khác thuộc nhóm Sáng Tạo hay gần gũi với Sáng Tạo như Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Tạ Tỵ... có rất nhiều nỗ lực tạo sức sống mới cho hội họa Việt Nam. Theo Huỳnh Hữu Ủy, trong vòng 5 năm, từ 1955 đến 1960 “những cuộc triển lãm của Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Tạ Tỵ liên tục mở cửa, đã gây được nhiều hào hứng, đặt thành vấn đề suy nghĩ cho anh em sáng tác cũng như giới nghiên cứu, phê bình và thưởng ngoạn”. (3)

Duy Thanh cũng là một nhà văn. Các truyện ngắn của ông thường được xây dựng trên những cảm xúc thật, mãnh liệt và thầm kín, và trên một quan niệm về cái đẹp và về tính nhân bản có thể rất khác với những quan niệm đương thời. “Giấc Ngủ” là truyện ngắn tiêu biểu và thành công của ông. Truyện là lời kể của một cô gái quê, nghèo, xấu xí, tàn tật, suốt ngày chỉ bò lê la quanh quẩn trong vài chục thước đất. Ngoại trừ lòng thương của bà mẹ, nghèo khổ và kém may mắn, cuộc đời chẳng có gì để dành cho cô. Một hôm, chợt bất ngờ, một thanh niên vì quá “túng bấn”, làm ẩu với cô. Cô mang thai, làm ngạc nhiên và xấu hổ cả làng. Kể từ đó, cô bắt đầu cảm nhận được sự hiện hữu của mình, cảm nhận được tình yêu, ý nghĩa của sự sống, và bắt đầu có hy vọng. “Ðêm ấy tôi mơ thấy tôi đi về làng như một người thường. Bằng hai chân. Ai nấy đều chào hỏi tôi như chính tôi cảm thấy từ trước mình vân là người thường. Ðến nhà thì có một thằng nhỏ ra đón với mẹ tôi. Trông tôi thằng bé chỉ cười. Mẹ tôi dắt nó đến và bảo: Sao không chào mẹ mày đi. Tôi giơ tay bế nó hôn, rồi hai mẹ con dong chơi trong vườn. Giữa lúc đang đùa với con và đang sống tràn trề hạnh phúc thì tôi hãi hùng chợt thấy cảnh vật như lớn lên và tôi nhỏ dần, nhỏ dần lại. Một cảm giác ớn lạnh suốt sống lưng và tôi chợt thức dậy. Bấy giơ cón là đêm”. (4)

Những cây viết nổi bật khác của Sáng Tạo như Doãn Quốc Sỹ, Quách Thoại, Tô Thùy Yên v.v... không đặt nặng lắm về những phá vỡ.

Doãn Quốc Sỹ là một nhà giáo. Thế giới văn chương của ông là thế giới rất nhân hậu. Ông không thích tạo dựng nhân vật ác. Nếu phải tạo dựng, cái ác chỉ có tính biểu tượng, ông không làm cho nó sống động. Bộ trường thiên “Khu Rừng Lau” gồm 5 cuốn, là một công trình lớn. Ông xây dựng mẫu người yêu quê hương, yêu con người, và rất hết lòng với văn hóa. Qua tác phẩm của ông, văn chương gần gũi với giáo dục. Qua con người thật của ông, nhà văn không xa cách với những điều được viết ra trong văn. Ông trở thành biểu tượng của một loại trí thức dấn thân, kiên trì với lý tưởng, quyết liệt với cái xấu mà vẫn nhân ái và độ lượng. Ðối với thành phần sinh viên và trí thức trẻ ở miền Nam, ảnh hưởng tích cực đó của ông không nhỏ.

Tô Thùy Yên cũng làm thơ tự do nhưng khác với Thanh Tâm Tuyền, thơ ông không khó hiểu hay không làm ra khó hiểu. Ông khong tỏ ra quyết liệt trong nỗ lực phá vỡ những khuôn sáo cũ. Thế nhưng, thơ của ông vẫn có nét riêng, sâu sắc và vẫn có nhạc, vẫn ngang tàng, cô đơn, và rất dễ len vào tâm hồn của người đọc.

tôi mang khắp hình hài những vết bỏng
đi suốt hoàng hôn không hỏi chào ai
(TTY: Tội Trạng)

giữa tầng trời cao chim giục giã
từng giàn như những thủy triều sôi
bạn có nghe, này bạn có nghe
trên đỉnh non nhòa, mây xôn xao
về nơi hẹn nào không hẹn trước
bạn có nghe, này bạn có nghe
vũ trụ miên man chuyển động đều
chim đã bay quanh từ vạn cổ
gió thật xưa, mây thật già nua
...
bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn
đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê
đến ngã ba, đành theo một lối
tiếc ngẩn không cùng theo lối kia
(TTY: Ðãng Tử)

Trước 1975, Tô Thùy Yên chưa xuất bản tập thơ nào. Thật khó để viết về ông cho đầy đủ. Mặc dầu vậy, những người phê bình thi ca miền Nam đứng đắn đều dành cho ông những lời lẽ thật trang trọng.

Quách Thoại cũng là một tài hoa của nhóm. Ông mất sớm. Thơ ông quằn quại nhưng vẫn không cầu kỳ, và gần với thơ cổ điển.

ta thức một đêm trắng
tỏ tình với trăng hoa
ta chết nằm liêu vắng
không bóng người đi qua
(QT: Liêu Vắng)

Ngoài những cây viết nêu trên, Sáng Tạo thường xuyên có sự góp mặt của những tên tuổi khác như Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sĩ Tế, Nguyên Sa, Thanh Nam, Thạch Chương, Lý Hoàng Phong v.v... Ðặc biệt trong suốt thời gian tạp chí này hiện diện, nó là một môi trường khích động, làm phát sinh nhiều tài năng của văn học Việt Nam.

Sáng Tạo ra được 31 số thì tạm đình bản. Sau đó tái xuất hiện (Sáng Tạo Bộ Mới) được một thời gian nữa thì ngưng hẳn. Thế nhưng, ảnh hưởng của Sáng Tạo đối với sự phát triển của văn học miền Nam thì quả thật đã vượt xa cái đời sống ngắn ngủi của tạp chí này.


NHỮNG CỌ XÁT

Cach xuất hiện của Sáng Tạo cùng với chủ trương “những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ dứt khoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế”, nếu nó lôi cuốn được thành phần thanh niên và trí thức trẻ thì ngược lại đã làm buồn lòng rất nhiều người. Ðặc biệt là những nhà văn đã thành danh hay những người chịu ảnh hưởng nặng của văn chương tiền chiến. Theo Võ Phiến, “cuộc “cách mạng” của Sáng Tạo như vậy động chạm đến sự có mặt đầy uy tín của một dĩ vãng: Nhất Linh. Sau đó hai năm, Nhất Linh “xuống núi”...” (5)

Ðiều cần nhớ là vào lúc “xuống núi”, Nhất Linh được gần như cả nước kính trọng như một thần tượng đầy quyền uy trong văn học Việt Nam hiện đại. Tạp chí Văn Hóa Ngày Nay (VHNN) của ông ra mắt ngày 17 tháng Sáu 1958 bán hết sạch ngay lập tức và sau đó phải in thêm cho đủ tiêu thụ. Một hiện tượng chưa từng thấy.

Trên số đầu tiên, trong bài nhan đề “Văn Hóa Ngày Nay Với Văn Hóa Việt Nam”, ông viết:

Văn nghệ Việt Nam hơn mười năm nay vẫn ở trong một tình trạng ngưng đọng, chưa tìm được lối đi. (...) Sở dĩ ngày nay văn nghệ chưa rung cảm được độc giả vì văn nghệ chưa nói được lòng người. Văn nghệ cần phải tìm chân giá trị của nó ở lòng người, và vĩnh viễn sống với loài người. (...)”

Khi Nhất Linh viết những dòng chữ trên đây, tạp chí Sáng Tạo đã liên tiếp xuất hiện trong suốt gần hai năm. Nhất Linh chủ trương “đăng những bài và truyện có giá trị bất cứ thời nào nơi nào.”

Như vậy, vào lúc đó, miền Nam chứng kiến hai vận động văn học đối nghịch nhau. Sự cọ xát giữa hai vận động đó không nhỏ và cũng đồng thời biểu trưng cho sự cọ xát giữa hai quan điểm, hai tâm tình khác nhau của quần chúng thưởng ngoạn.

Không biết rõ trong thực yế phản ứng của nhóm Sáng Tạo như thế nào đối với VHNN, nhưng sự cọ xát phải lên đến một mức độ trầm trọng. Ðến nỗi Nhất Linh đã cho đăng những bài công kích hay chế giễu Sáng Tạo. Một cách không công khai như bài viết của Thu Vân trên VHNN số 3, hay tương đối công khai như bài viết của Duy Lam trên số VHNN Giai Phẩm Xuân 1959: “...đến gần mới biết đó là một họa sĩ của nhóm Sáng Tạo (...) Họa sĩ vẽ tài thật, tác phẩm của họa sĩ thật thể hiện được hết tinh thần và tinh túy nội ngoại của đống rác (...) Bước chân vào tòa báo Sáng Tạo tôi lấy làm lạ vì thấy mỗi người đứng một góc phòng trước một bàn thờ nhỏ treo một bức ảnh bán thân. Họ làm đèn khấn vái rất thành kính và lễ luôn tay. (...) Tôi đến sau lưng văn sĩ M.T. người chủ trương nhóm S.T. anh cũng không hay biết. Lắng tai tôi nghe thấy anh khấn:

“Trời ơi! Người là một người siêu phàm! Người là tất cả. Người ngự trị trên thế giới này! Ta kính phục người, trọng người vô vàn!...”

Tò mò tôi nhìn lên bàn thờ thì chợt giật mình kinh hoảng vì lạ thay anh M.T. đang lễ ảnh anh M.T.! Qua thăm những bàn thờ khác thì đại loại đều thế cả (...)” (6)

Thực tế, mặc dầu được sự đón nhận vô cùng nồng nhiệt từ lúc đầu, trong sự cọ xát đó, người đọc hờ hững với VHNN. Tạp chí VHNN kéo dài không được hai năm thì đình bản. VHNN quy tụ được rất nhiều cây viết có thực tài. Thế nhưng, nếu nhìn VHNN như một vận động văn học thì ảnhh ưởng của nó trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam lại rất khiêm nhường.

Ghi lại những cọ xát đó cùng với cách kết thúc đó chỉ để nói lên một điều: miền Nam đã thay đổi nhiều lắm. Mặc dầu rất kính trọng Nhất Linh, người đọc sách ở miền Nam không còn muốn thu mình trong cái thế giới văn chương của ông nữa. Họ gần với Sáng Tạo hơn. Không có gì sai trong chủ trương “văn phải dựa vào thời gian và dựa không gian để vượt không gian”. Rất đúng là đằng khác. Tuy nhiên cái thế giới văn chương của Nhất Linh ở VHNN vẫn còn quẩn quanh trong văn chương của trường ốc. Ngoài văn chương cổ điển Việt Nam và Trung Quốc, nó thu hẹp trong ảnh hưởng văn chương Pháp của thế kỷ 19 cộng với Leo Tolstoi và Dostoievski của Nga. Trong suốt các số VHNN, người đọc không thấy sự hiện hữu của thế kỷ 20, cũng như không thấy có dòng văn học nào khác ở thời đại này.

Vào thời điểm đó, sự khao khát sống vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ bé của miền Nam đã rất lớn. Những ý thức về độc lập và bình đẳng cũng đã bắt đầu ăn sâu. Có lẽ vì vậy mà tính cách của xã hội miền Nam và của văn học miền Nam gần với Sáng Tạo hơn là với VHNN.


VÀI NHẬN XÉT THÊM VỀ NHÓM SÁNG TẠO

Bên cạnh những đóng góp như đã trình bày trên đây, khi nói về Sáng Tạo không thể không nói đến một vài khía cạnh khác, tiêu cực hay tích cực, rất đặc thù của Sáng Tạo.

Những cọ xát với VHNN có lẽ không phải chỉ phát sinh từ sự khác biệt về quan điểm, và giá trị nghệ thuật của tác phẩm, mà có thể còn do những yếu tố rất con người. Nếu cái đẹp của nhóm Sáng Tạo, ngoài chuyện làm văn chương nghệ thuật, là ở tình bằng hữu của họ, thì có thể cũng chính cái tình bằng hữu đó cũng đã bủa vây họ để tạo thành tinh thần phe nhóm. Không biết sự thật như thế nào, nhưng khi nghĩ đến Sáng Tạo, không mấy ai không cảm thấy điều này. Nếu những phản ứng của Nhất Linh hay của Duy Lam chỉ hoàn toàn phát sinh từ vấn đề nghệ thuật, những điều được viết ra về Sáng Tạo chắc phải khác đi. Tinh thần phe nhóm trong sinh hoạt văn học nghệ thuật không là điều mới lạ. Tự Lực Văn Ðoàn chắc cũng có tinh thần đó. Thế nhưng trong những bài viết của họ, những sự xưng tụng lẫn nhau không nhiều, và không có những chữ “quá lớn”.

Một khía cạnh tiêu cực của nhóm Sáng Tạo là sự thiếu vắng những cây viết nữ nòng cốt, khác với trường hợp của VHNN, cũng như của các tạp chí văn học khác xuất bản về sau này. Bên cạnh đó, mặc dầu cổ võ cho những trào lưu tiến bộ, những sáng tác văn học ở Sáng Tạo vẫn chưa bao gồm được những sắc thái liên hệ đến người nữ ở những khía cạnh có tính thời đại, xã hội và trí thức, như thấy rõ trong văn học Nhật Bản từ thế kỷ 19.

Sáng Tạo đưa ra những tiêu chuẩn rất cao cho văn học nghệ thuật, nói nhiều đến những phá vỡ, những thử nghiệm, những xông tới. Thế nhưng, ngoại trừ Thanh Tâm Tuyền, hầu hết những văn nghệ sĩ của nhóm đã không đi trọn con đường nghệ thuật của họ theo tinh thần đó. Không phải là  tác phẩm sau này của họ tầm thường. Nó chỉ đi không đúng tinh thần đó. Mai Thảo, có công lớn trong vận động văn học của Sáng Tạo, bắt đầu sự nghiệp của ông bằng những tác phẩm hay. Sau đó, ông viết nhiều và tạo một thế giới riêng của ông. Thế giới đó phần lớn lại nặng về tánh cá biệt ở phong cách hành văn, sử dụng ngôn từ. Ở độ sâu của nghệ thuật, văn chương của ông không thực sự mới theo cái nghĩa phá vỡ. Sáng tác của ông hầu hết cũng không đủ lớn để tồn tại lâu với thời gian, như nhiều tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn trước 1945, hay của Võ Phiến, ở cùng thời với ông. Duy Thanh cũng vậy, ông viết được một vài truyện ngắn hay và có thể xem là rất mới ở thời điểm đó. Ông cũng được xem là một họa sĩ có khả năng tiên phong, được mến chuộng về cả tài năng lẫn tánh tình. Không hiểu vì sao, sau đó không thấy ông tiếp tục theo chiều hướng như vậy. Sau này, không mấy ai còn thấy những sáng tác mới của ông, cả trong văn chương lẫn hội họa.

Sau biến cố 1975, Sáng Tạo có nhiều người ở tù, và ở tù rất lâu. Như Doãn Quốc Sỹ, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền.v.v.  Ðặc biệt, những nhà văn, nhà thơ này vẫn tiếp tụ sáng tác, ở trong tù, cũng như sau khi ra khỏi tù. Có một số bài đặc sắc, như bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên. Điều đáng tiếc là nói chung sáng tác của họ không nhiều, không lớn để biểu trưng đúng mức nổi đau kinh hoàng của dân tộc và của cả chính họ. Ðiều đáng ghi nhận, văn chương của họ không mang chút oán hờn nhỏ bé. Riếng về Thanh Tâm Tuyền, sáng tác của ông có những nét đặc biệt cần được trình bày ở đây.

Trước 1975, đọc thơ Thanh Tâm Tuyền, người ta thấy ở nơi ông nhiều ý tưởng lạ. Người ta thấy ông đặt tiêu chuẩn cao cho thơ. Người ta biết ông có một quan niệm về thơ không giống rất nhiều người, ông có một cõi thơ riêng. Tuy nhiên, ngoại trừ một ít bài, thơ ông khó gần với người đọc. Sau này, đọc thơ ông xuất hiện ở hải ngoại dưới bút hiệu Trần Kha hay những bài trong tập thơ mới xuất bản năm 1990 (7), sự xa cách đó không còn nữa. Nhiều bài thơ sau này của ông tuyệt vời. Bây giờ ông là một nhà thơ tự do đúng nghĩa. Ông không tránh né thơ cổ điển. Ông làm thơ lục bát, thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn... và dĩ nhiên rất nhiều thơ tự do. Gần như bài nào cũng đặc sắc. Và, vẫn là thơ Thanh tâm Tuyền. Tôi cho rằng ông là người duy nhất trong nhóm vẫn tiếp tục đi tới trên con đường rất khó mà ông đã chọn.

Trông lên đồi núi mờ sương
Mưa bay tất tưởi mưa rong tần ngần
Tiêu điều ngơ ngác trại quân
Ðất lầy bùn đỏ gánh chân ghê người
(TTT: Ngày Ðến)

Tuột dốc té nhào trên hẻm núi
Chết điếng toàn thân trong giây lâu
Mưa rơi đều hạt mưa phơi phới
Ngày đang tàn hiu quạnh rừng sâu
(TTT: Ngã Trên Núi Việt Hồng Ở Yên Báy Khi Ði Vác Nứa)

Em, em có hay kẻ tội đồ biệt xứ
sớm nay về ngang cố quận
Xao xuyến ngây ngô hắn dọ hỏi
bóng tối sâu thẳm

Ðêm vây hãm lụn dần
Thủ thỉ mưa ru ngày khốn đốn
(TTT: Bài Nhớ Thi Sĩ)

Cho đến nay, giữa những bài thơ tù đã được xuất bản của Việt Nam, khó tìm những bài thơ hay hơn.


KẾT LUẬN

Những trình bày trên đây chỉ nên được xem như một cố gắng đánh giá công bình về sự đóng góp quan trọng của một nhóm văn nghệ sĩ cho văn học, nghệ thuật Việt Nam. Dù sống trong hoàn cảnh chiến tranh của đất nước, dù sống tha hương, dù trong tù tội.

Nhận định những công trình cũ cũng có thể được xem như một cách thưởng ngoạn hay như một hồi tưởng. Quan trọng hơn cả, đó cũng là một cách để nhìn, đế đánh giá hiện tại và tương lai. Văn Học Miền Nam phát triển trong hoàn cảnh một đất nước bị chia đôi và chỉ có năm năm vắng tiếng súng. Ðất nước chúng ta ngày nay đã thống nhất và trải qua gần bốn mươi năm thanh bình, theo cái nghĩa không có bắn giết nhau bằng súng đạn. Qua cái thời gian dài đó, văn học chúng ta, ở trong hay ngoài nước, đã vượt đi những chặng đường nào?

Bài biết này không nhằm trả lời câu hỏi đó. Chỉ xin ghi lại những dòng chữ của Mai Thảo, viết 45 năm trước đây tại Sài Gòn:

Nghệ thuật hôm nay phải nói được chúng ta, trình bày được tâm trạng, đời sống lớp người chúng ta, nếu không nó sẽ chẳng bao giờ nói được gì hết. (...) Ðời sống không dừng lại. Nghệ thuật thì không ngừng đổi thay theo đời sống đi tới, và nhà văn luôn luôn đứng trước những vấn đề mới đặt ra, từng phút từng giây (...) nghệ thuật ta đã và vẫn còn phải là một lên đường. bằng những thí nghiệm không ngừng. Bằng những khám phá không mỏi.” (2)

Trương Vũ
Virginia, December 2014

Chú thích:

1.  Vũ Anh Khanh là tác giả bộ truyện “Nửa Bồ Xương Khô”, trong đó có bài thơ nổi tiếng “Tha La Xóm Ðạo”. Theo nhà văn Võ Phiến, Vũ Anh Khanh sau 1954 vượt tuyến vào Nam bị bắn chết trên sông Bến Hải.
Xem “Văn Học Miền Nam Tổng Quan” của Võ Phiến, nhà Văn Nghệ (California) xuất bản.
2.  Mai Thảo, Ðứng Về Phía Những Cái Mới, in lại trong Tuyển Tập Sáng Tạo, Sống Mới xuất bản (California, 1980)
3.  Huỳnh Hữu Ủy, Nghệ Thuật Tạo Hình Sài Gòn Trước Năm 1975, tạp chí Hợp Lưu số 10 (California, 1993)
4.  Duy Thanh, Giấc Nguû, in lại trong Tuyển Tập Sáng Tạo.(sđd)
5.  Võ Phiến, sđd, trang 185.
6.  Duy Lam, Ðầu Năm Xông Ðất, Văn Hóa Ngày Nay số 8, Giai Phẩm Xuân (Sài Gòn, 1959)
7.  Thanh Tâm Tuyền, Thơ Ở Ðâu Xa, Trầm Phục Khắc xuất bản (California, 1990)

2448. HỒ ĐÌNH NGHIÊM Đủ chưa, rượu?


ĐỦ CHƯA, RƯỢU?
H  ồ    Đ  ì  n  h    N  g  h  i  ê  m





Trước tiên, mình xin cám ơn các anh chị, các bạn gần xa trong ngoài đã san lòng hỏi thăm và chia sẻ khi hay tin buồn vụt đến. Hẳn nhiên các bạn cũng hiểu ra cái tựa trên là đảo ngữ từ nhan truyện đầu tay của nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Một truyện ngắn đại diện rõ cho hai chữ số phận. Số phận nó mang thoạt đầu là một hạt ngọc như cách cảm nhận của nhà văn Mai Thảo. Người mà lạ kỳ thay, thời gian mình ngồi gần ông, nghe ông kể chuyện về kinh nghiệm sáng tác nhiều gấp ngàn lần so với người anh rể tài hoa Dương Nghiễm Mậu. Các bạn hiểu cho, anh Nghiễm sống ở Sài Gòn còn mình mãi loay hoay với Huế, với chân đi tù túng giữa các con đường tối, bé nhỏ. Khoảng cách địa lý, cuộc sống mới, những lon gạo, một cái vé xe đò chạy suốt và một cái giấy phép đi đường. Tất thảy, chẳng hàm hồ để ví von: Nặng tợ ngàn cân. Tinh bằng hữu, tình huynh đệ, tình anh em vào thời điểm đó đã có người ví: Xem nhẹ tựa lông hồng. Hoặc nói như Thâm Tâm: “Em thà như hơi rượu cay”.

Mình “chung tình” với Huế, mà có lẽ cả anh Đinh Cường cũng rứa. Hoạ sĩ Đinh Cường, vừa là anh rể vừa là người thầy dạy môn hình hoạ và sơn dầu thời mình học ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế. Dạo ấy có bài hát “sến” vẳng ra từ các quán cà phê: “Nếu là hoạ sĩ anh sẽ vẽ em…” Giấc mơ làm hoạ sĩ của mình e cũng đạt tới tầm cỡ mong được vẽ EM. Mình chẳng rõ sinh hoạt các bạn học ở Luật khoa, Văn khoa hoặc các phân khoa khác như thế nào, riêng ở Mỹ Thuật môn hình hoạ được dành vào buổi sáng, vẽ người mẫu bắt đầu từ thứ hai và kết trúc ở trưa thứ sáu. Mỗi tuần một “trả bài”. Giáo sư chỉ định một người trong lớp đứng ra sắp bản vẽ của anh em dựng đặt ở vách, theo mỹ quan của anh ta bài làm nào đẹp đẽ nhất thì sắp hàng từ trái qua phải cứ thế mà vụng xấu lần. Thầy giáo sẽ thẩm định lại, dời đổi vị trí đồng thời cho biết lý do, nặng phần kỹ thuật: Về bố cục, dựng hình khối, cơ thể học, định luật viễn cận, ánh sáng và bóng tối, màu sắc và đường nét, cách tấp màu chồng lên, vân vân và vân vân. Thầy Đinh Cường “chí công vô tư” vẫn thường sắp bài làm của mình lùi sâu ở hạng mục cuối lớp. Đôi khi EM nào hay, muốn vẽ cho ra em chẳng phải chuyện đùa! Kể chuyện này ra để nhằm nói rõ, mình vẽ rất yếu và hai anh em hằng đêm thường vào cà phê Chiêu nằm gần đồn Mang Cá ngồi trầm tư, chẳng mấy khi mang chuyện vẽ vời ra nhắn nhe, nặng nhẹ. Một thứ “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”? Trước sau và mãi mãi, tình mình đối với anh Đinh Cường sâu đậm hơn cả tình anh em cùng máu mủ cật ruột. Đinh và Hồ, vốn đã có trước một gắn bó sắc son.

Mình luôn nghi ngờ câu phát biểu của danh hoạ Leonardo Da Vinci, tổ sư môn anatomie: “Trò kém là người không vượt nổi thầy mình”. Huấn thị của ông rõ là một sự trúc đẩy mà thành công hay không… hạ hồi phân giải. Ở mặt văn học nghệ thuật, xưa nay hiếm. Chạy bắt cái bóng thầy đã bở hơi tai, sức nghỉn đâu anh theo lưng thầy, ba chân bốn cẳng vắt giò lên cổ cũng không đủ hoả hầu để vượt qua. Phương chi lãnh vực sáng tác người ta đề ra câu châm ngôn: Bạn phải nổ lực tìm ra cho riêng bạn một lối đi. Addison Parks nói: “Hãy giữ gìn tiếng nói riêng của mình, chúng ta hơn nhau ở chỗ đó”. Tóm gọn những rắc rối mà kẻ làm nghệ thuật muốn thử nghiệm, chẳng có câu nào hay hơn Nguyễn Du: “Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa”.

Mùa hè năm 1979, tình cờ mình lạc bước vào “vườn hoa”. Mình vượt biển sang Hong Kong, sóng gió chưa phai nhạt trên thân thế một đứa “boat people” thì đại diện một cơ quan thiện nguyện của Hội Hồng Thập Tự có sự trợ giúp của Liên Hiệp Quốc đi vào trại tị nạn phỏng vấn. Họ biết mình tốt nghiệp Mỹ Thuật và kéo về làm cho tuần báo Hope, minh hoạ phụ bản cũng như lay-out sao cho diện mạo tờ báo trông sáng láng đôi phần. Hope in ba mặt chữ khác biệt: Anh, Hoa, mà Việt ngữ chiếm gần nửa số trang. Báo phát không, xem như món ăn tinh thần cho những kẻ xa nhà cuồng chân sau những hàng rào mắt cáo ngóng đợi một lên đường đến đệ tam quốc gia tự do. Bốn tháng ngồi trong toà soạn có gắn máy lạnh và chung đụng cùng 3 thành viên đến từ Anh quốc giàu lòng hảo tâm, mình nghiệm ra giá trị thực dụng của chữ viết nặng hơn nhiều so với những bức ký hoạ. Một bài thơ nhớ nhà, một đoản văn kể lại bao sóng gió vùi dập hẳn nó thiết thực hơn ngàn lần mấy tấm minh hoạ nhỏ bé bằng mực Tàu kia. “Em hội hoạ” từ tốn bỏ mình đi, hay đúng hơn mình đang nặng lòng riêng mang trao không ngần ngại cho “nàng thơ”, cho một tâm tình cần phải bộc lộ. Trường hợp này, chữ viết nó có cái uy của nó. Rồi dần dà, sẵn trớn, mình gửi những truyện ngắn (viết tay trên một mặt giấy) đi ta bà thế giới, định được một tên gọi: “Người viết mới sau 1975”.

Nhà văn hoạ sĩ Võ Đình, giọng Huế trầm ấm: “Anh hiểu, khi mô em nghe ra lòng cựa quậy hối thúc rồi hẳn vẽ”. Võ Đình, người anh kết nghĩa với Đinh Cường, người dịch truyện ngắn “Ngày Đốn Cây Vú Sữa” của Dương Nghiễm Mậu sang tiếng Anh, in trong War & Exile, PEN East Coast xuất bản năm 1989. Người từ Maryland về Sài Gòn thăm Dương Nghiễm Mậu mà phút chia tay mãi hoài bịn rịn chẳng đành rời ra ở cuối năm 1988. Anh viết thư kể lại diễn biến “cái sự chẳng hiểu kia” để không quên chú thích: “Về mặt tư tưởng, về niềm khao khát sống, kể cả thái độ chống đối cuộc đời thì văn Dương Nghiễm Mậu phải đứng hàng đầu”.

Ông Đỗ Văn, phát ngôn viên trong ban Việt ngữ của đài BBC đặt trụ sở ở London có tìm nhặt một truyện ngắn của mình dùng để đọc và phát thanh vào hôm 26 tháng 3 năm 1989 (Cẩn trọng với công việc, ông chu đáo dọ tìm ra địa chỉ mình trú ở Montréal để gửi qua bưu điện cuốn băng cassette thu âm, xem là quà kỷ niệm ngàn trùng). Đôi ba năm sau, ông Bùi Bảo Trúc (nói giọng Bắc Hà Nội di cư giống Đỗ Văn) làm ở đài VOA trụ sở đặt ở Washington DC cũng dành 10 phút phỏng vấn mình liên quan đến việc “đội ngũ anh được xem như là cây cầu nối tiếp giòng văn học trước 1975 cho tới hải ngoại”. Cái giọng ấp úng “của thằng nhà quê” (chữ của Mai Thảo) phát sóng vô tình đến tai tác giả “Quê Người”, anh Dương Nghiễm Mậu cũng từng đón nghe cái truyện của thằng em lưu lạc phát thanh trên đài BBC. (Ngày xưa nó đâu có biết gì). Anh viết thư sang, trang perlure mỏng, mẫu tự trên bàn máy chữ gõ thủng giấy, bỏ dấu tay, nhiều đoạn bôi xoá: “…Có một điều, được biết là em có sáng tác và đó là điều để anh viết thư cho em, câu hỏi đặt ra là tại sao em không viết thẳng bằng tiếng Pháp, Anh? Phương Đông vẫn còn giấu ở đó bao điều lạ mà người phương Tây vẫn muốn được nhìn thấy. Dĩ nhiên bước đầu mình phải ra công học hỏi. Hãy coi đó như một sinh hoạt đi, một sinh hoạt tốt. Để có cái gì đó giữ cho mình một đời sống, việc theo đuổi một công việc sẽ giúp cho mình sống có nghĩa, sinh thú hơn những người khác trong mưu hồ khẩu thấp kém của họ, nó phân biệt mình với sự tầm thường nhàm chán, em có thấy vậy không? Trong đời sống chữ KHÔNG có lẽ là khó nói nhất, chẳng phải ai cũng có thể nói được…”

Lời tâm tình, sự khuyên bảo kia đã đặt sai đối tượng. Hoàn cảnh này chữ Không e dễ nói nhất. Mình có trả lời thư, đại ý: Anh ôi, tiếng Việt em chưa gom đủ một bồ huống hồ tiếng Tây tiếng u. Trong toà soạn những tạp chí văn học chốn đây họ có nguyên ban phụ trách việc lựa bài, toàn Master of Arts. Sẵn lòng bỏ công ngồi đãi trấu. Em lượng sức mình gạo chẳng thể thành cơm. Chuyện chỉ ngang đó, cả hai không nhắc tới cái mệnh đề “Lập thân tối hạ thị văn chương” một lần nào nữa cả. Ai đó hỏi mình: Có được hai người anh rể nổi tiếng, vậy bạn học được gì ở họ? Nay cả hai anh đều mất, mình xin thú nhận: Trước mắt, dễ thấy nhất là mình học hội hoạ, sau đó chuyển món bỏ cọ xuống nắm bút lên, đổi sang viết văn. Và khẳng định ngay, mình là đứa học trò kém cỏi trong cả hai bộ môn, là thứ cây tầm gửi leo bám nương nhờ vào dáng vẻ bề thế của hai người anh rể. Anh Dương Nghiễm Mậu có tính cách gần như một nhà mô phạm, nghiêm khắc, sống thu hẹp, ít giao tiếp bạn bè, chẳng thích bông lơn, ngại tỏ bày. Thu tóm những quan sát để qua văn viết trải đặc kín những sự việc, giàu hình tượng và lắm ẩn dụ. Trái ngược như hai mặt một đồng tiền, phía kia là anh Đinh Cường, xuề xoà dễ thân cận, tâm lành, rộng rãi với tha nhân, cái rộng rãi đâm ra dễ bị lợi dụng. Chẳng nghi kỵ một ai, đi đúng với điều mà Trịnh Công Sơn từng thổ lộ: Hồn nhiên rồi sẽ bình minh.

Gia đình mình sống ở Huế, nhà đông con, toàn cả nam chỉ riêng có hai o con gái. Một Huế cổ kính nhiều thành kiến, nhiều soi mói, nhiều “bình luận viên”, nhưng lành thay, Ba Mạ mình rất dân chủ, rất “lắng nghe tâm tư và nguyện vọng” của con. Vì thế chẳng thấy mảy may trở ngại khi trao hai o con gái vào tay hai chàng một Nam một Bắc hành nghề “văn nghệ sĩ”. Mạ mình thương người chị đầu trong khi Ba mình yêu rất mực cô em. Song thân quy thiên đã lâu, nếu còn tại thế biết thằng con út học đòi vẽ tranh viết truyện hẳn ông bà cũng chỉ cười xoà “niệm tình tha thứ”.

Chị Ngọc Trang có làm đôi ba bài thơ hồi học đệ nhị trường Đồng Khánh, chính thức có thơ đăng trên báo Văn thời thư ký toà soạn là ông Trần Phong Giao chủ trương đón nhận những cây viết trẻ ngoài miền Trung. Thơ để tên thật ban đầu, sau mang bút hiệu Miên Thảo (không phải ông Nguyễn Miên Thảo). Lên đệ nhất ban C, chị có viết bài tiểu luận nghĩ về tác phẩm Gia Tài Người Mẹ. Chị cũng đặc biệt yêu Đêm Tóc Rối và Tuổi Nước Độc. Có trao đổi ý kiến với tác giả những hôm nhà văn Dương Nghiễm Mậu ra Huế, được anh Đinh Cường dẫn về nhà thăm. Duyên khởi mối tình hai người hình thành từ “biến cố văn học” đó. Mình đồ vậy. Cuối cùng là cái đám cưới tổ chức ở Đà Nẵng vào năm 1971.

Năm 2006, ở Sài Gòn người làm sơn mài đi bộ thong dong trên lề đường, bất ngờ có chiếc xe gắn máy leo lên tông không khoan nhượng làm gãy xương cổ chân. Phải giải phẫu, phải bó bột nhưng trong đường truyền của sóng điện thoại viễn liên vẫn nghe tiếng cười đầy khí thế của người biết chế ngự nghịch cảnh từ Việt Nam truyền gửi qua. Mười năm sau, mình bị băng tuyết lạnh lẽo vô tình xô ngã làm gãy xương chậu, vào nhà thương ê ẩm nằm cứng thây và mơ hồ nghe ra tiếng cười hôm nọ của nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Tiếng cười nếu muốn thông dịch ra: Chuyện nhỏ! Sáu tháng sau hoạn nạn, mình chống gậy đi xiêu lạc để nghe tin buồn xô tới: Anh Nghiễm mất rồi Nghiêm ơi! Vỏn vẹn có bấy nhiêu. Bởi dài dòng là điều chẳng cần thiết, chỉ nhiêu đó cũng đủ bôi xoá, nhận chìm tất thảy. Mãi mãi không còn tìm đâu ra một giọng cười quen thuộc. Cũng như tự nghìn trùng cổng xe lửa số 6, nhà thờ 3 chuông đã vuột trôi trong ký ức của thằng em út (không biết thổi sáo) lưu lạc.

Chưa tròn năm, mình mất luôn cả hai ông anh rể tài hoa. Chợt rùng mình, sao thời gian này mình cứ phải siêng viết về những “niềm đau nhức của khoảng trống”. Này anh, này chị, này bạn, nay bè lần lượt bỏ đi. Lau sậy bên sông run thân theo con nước chảy xiết. Anh Dương Nghiễm Mậu thích giòng chữ của Nguyễn Trãi: “Nước chảy dễ gì trôi bóng núi”.

Mình xin đóng lại chút tâm tình ngang đây. Một lần nữa, cám ơn các anh chị quan hoài và han hỏi tới mình. Mình cũng thích Nguyễn Trãi:

“Tam thập dư niên trần thế mộng,
Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi”.

Hồ Đình Nghiêm
Montréal, 5 tháng 8 năm 2016.

Ghi chú của PCH:  Hồ Đình Nghiêm có hai người anh rể vốn là những bậc tài hoa của văn học nghệ thuật miền nam: Đinh Cường (chồng của chị Tuyết Nhung) và Dương Nghiễm Mậu (chồng của chị Tuyết Trang).

2441. MAI THẢO Con đường Dương Nghiễm Mậu


XA LẮC XA LƠ
DƯƠNG NGHIỄM MẬU
(1936-2016)
Hồ Đình Nghiêm


Hoạ sĩ Đinh Cường ra đi chưa tròn năm. Hôm nay lại nhận hung tin: Nhà văn Dương Nghiễm Mậu đột ngột qua đời ở Sài Gòn vào lúc 21 giờ 35 phút, ngày 2 tháng 8 năm 2016. Hưởng thọ 81 tuổi. Quá bất ngờ, quá rối trí, tôi xin mượn bài viết “Con đường Dương Nghiễm Mậu” của nhà văn Mai Thảo để nhớ lại chân dung một Người Anh đã thực sự xa cách.





MAI THẢO
Con đường Dương Nghiễm Mậu


Khoảng cuối thập niên 50 và bắt cầu sang đầu thập niên 60- cây cầu đến nay còn soi bóng tuyệt đẹp trên giòng sông đất nước- những tấm lòng đồng chí với những phá vỡ và những làm mới của văn học và cho văn học, đã được liên tiếp chứng kiến gần như trong cùng một thời điểm, hai cuộc lên đường đi về những chân trời phía trước của một thế hệ những người cầm bút ở miền Nam.

Lên đường thứ nhất khởi sự từ Lên Đường Lớn: Từ hiệp định chia đôi đất nước, từ Bến Hải và vĩ tuyến 17, theo những bước chân trùng trùng của di cư một triệu. Đội ngũ tiền phong của nó là Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thuỳ Yên, Quách Thoại, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn và Nguyên Sa, những người trước vào từ miền Bắc, bài thơ thứ nhất viết dưới những mái lều vải tạm trú của sinh viên, hai người sau “viễn phương” hơn, lên khỏi những hầm rượu tả mạn sông Seine, mới từ Pháp về. Những vì sao đầu này của một vòm trời văn chương vừa dựng thoạt đầu là những lấp lánh lẻ tẻ. Trên tờ Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, tờ Đời Mới của Nguyễn Đức Quỳnh, Trần Văn Ân từ Lửa Việt, Người Việt của sinh viên Hà Nội di cư. Rồi sau, cùng đến với nhau thành một họp mặt chung trên tờ Sáng Tạo.

Lên đường thứ hai, đã thấp thoáng trong dấu chân lên đường thứ nhất, nên có thể coi như một đồng hành, là một gồm thành đầy khí thế của những người viết trẻ, tất cả đều ở tuổi hai mươi, và diễn đàn chính của họ là tờ Văn Nghệ, chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột nhà thơ Quách Thoại. Họ là Viên Linh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Du Tử Lê, Đỗ Quý Toàn, Trần Đức Uyển, là Nguyễn Thuỵ Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng. Và một người viết mới, tuy cùng một lên đường với bằng hữu nhưng độc lập, tách biệt, như đi một mình trên con đường riêng. Đó là Dương Nghiễm Mậu.

Những người của hai lên đường làm mới văn học nói trên, đến nay tuy đã mấy chục năm, nhưng với phần lớn tôi đều giữ được những kỷ niệm về lần đầu gặp mặt. Kỷ niệm với mỗi người một khác. Thanh Tâm Tuyền, căn gác xép ám khói ở toà soạn Dân Chủ, hắn hỏi xin một điếu thuốc và tôi tưởng hắn là thợ sắp chữ. Nguyên Sa cái mũ trắng thầy giáo, lần đầu tới Sáng Tạo, gọi tôi vào phòng trong dậy một điệu nhẩy Swing. Cái áo thun cũ, cái quần sà-lỏn của Doãn Quốc Sỹ, bữa ăn trưa đãi tôi ở Đại Học Xá. Cung Trầm Tưởng, cái cà vạt đỏ chói, tóc đỏm dáng từng sợi. Viên Linh mặt mày cau có giận dữ vì đến đưa thơ tôi còn ngủ vùi, cửa toà báo treo tấm biển đi vắng. Trần Thanh Hiệp không nhìn lên, vùi đầu vào cuốn tự điển to gấp hai người Hiệp. Quách Thoại, cái anh chàng khả ố ngất ngưởng ở tiệm ăn Thanh Thế, lần gặp đầu đã tự nhận là vua thơ một thời. Nhưng kỷ niệm về lần thấy đầu, biết đầu với Dương Nghiễm Mậu là vô tình và lý thú nhất, sau này tôi kể chuyện lại, anh em còn cười lớn với nhau.

Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gửi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn tay tôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy giòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người mới viết. Đọc tiếp mấy trang nữa, tôi hỏi người bạn: “Bỏ đi tất cả đây à?” Người bạn không ngửng đầu lên: “Ừ đã đọc rồi, bỏ không đăng”. “Moi lấy đi được không?” “Để làm gì vậy?” Người bạn ngạc nhiên hỏi. “Mặc moi”. Tôi nói và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. Người bạn tôi chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc óng ánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn “Rượu, Chưa Đủ”, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồ côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình sông núi với em, để có được cùng em, dù tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chững chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.

Sau này, ngắm nhìn một Dương Nghiễm Mậu đã mau chóng nổi tiếng, đã có hàng chục tác phẩm đã in ra, có được thêm những nhận thức mới về cõi văn sáng rỡ một tâm thức thời đại vô chừng nghiêm chỉnh hiếm thấy ở một người viết trẻ, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến hai đứa bé mồ côi trong Rượu Chưa Đủ. Một công viên vắng lặng. Công viên đó chính là hình ảnh con đường văn chương Mậu đã mở ra và đi trên đó, một mình. Những mô hình sông núi quê hương. Đứa nhỏ mồ côi nghiêm chỉnh, sớm hiểu biết, ý thức trong truyện cũng chính là Dương Nghiễm Mậu, đã đắp xong và rất hoàn chỉnh, những mô hình sông núi cho cõi văn, cõi viết của mình.




Tuần lễ trước đây, ở một lá thư của người bạn thân gửi sang từ Sài Gòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải đi trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nàp cũng thư thái ung dung. Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu Chưa Đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hóm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh. Mậu nhắm mắt mỉm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rơi xuống.

Sau biến cố 1975, trước khi bị truy nã và do đó đứt hết liên lạc với bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả “Địa Ngục Có Thật” vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tuỳ thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện giữa tan hoang cộng sản đã vào. Mậu cười nói với tôi: “Nhiều chuyện lạ sắp xẩy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy”. Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn cho đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi. Ít lâu sau, quả nhiên Dương Nghiễm Mậu đã “phải đi”, cùng với anh em văn nghệ sĩ miền Nam. Đi thẳng vào trại tập trung Phan Đăng Lưu.

Một lần gặp khác, trên hè đường Tự Do, xế cửa nhà sách Xuân Thu. Mậu, một cây dù Tú Xương, tay kia xách một túi giấy, nói ở trong là một cái chăn len, đồ dùng quý giá nhất còn lại trong nhà, và Mậu đang trên đường ra chợ trời Tôn Thất Đạm bán lấy ít tiền đem về cho vợ mua gạo. Kể chuyện khốn quẩn mà cười thật vui, nét mặt linh hoạt, ánh mắt riễu cợt. Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lĩnh chói loà. Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và trong sự trẻ trung đặc biệt gần như không có tuổi thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt vời của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.

Lần sau cùng gặp, thời gian này Mậu vừa được trả tự do, là chiếc dù đen hiền triết tôi nhìn thấy ở trước rạp chiếu bóng Trương Minh Giảng. Lần đó, kẻ bên này đường kẻ bên kia, tôi đang bị truy lùng ráo riết, nên chỉ nhìn nhau gật đầu, vẫy tay chào không ai đứng lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng tôi nhớ vừa đi vừa còn nhìn lại, nhìn cây dù đen văn chương xa dần, lòng đầy quý mến.

Bạn hữu còn kể ít nhiều chuyện về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về cái thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt là với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nẩy, Mậu vắn tắt khuyên: “Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ”, và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của “anh” Dương Nghiễm Mậu. Một chuyện ngộ nghĩnh về Phan Đăng Lưu: Buổi sáng hai anh em được trả tự do, Nhã Ca có người đến đón ở cổng trại, Mậu không có ai. Nhã còn năm đồng trong túi, Mậu không có một đồng nào. Nhã đưa cả năm đồng cho bạn, để đi xe. Mậu cầm tiền cười lớn: “Anh là ông vua đi bộ ở Sài Gòn, cần gì xe cộ nữa” và dùng năm đồng của Nhã Ca ung dung vào quán uống cà phê. Chi tiết này đủ cho nhìn thấy bản lĩnh Dương Nghiễm Mậu trong nghịch cảnh.

Một chuyện nghộ nghĩnh khác, vẫn về Phan Đăng Lưu. Chẳng hiểu vì lý do nào cùng với Lê Xuyên tác giả “Chú Tư Cầu”, Mậu là một trong hai tù nhân văn nghệ bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau mới được gọi tên. Cuộc thẩm vấn tức cười không thể tả được:

-    Anh tên gì?
-    Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.
-    Sao lại những hai tên?
-    Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.

Quản huấn lắc đầu, Mậu không có hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:

-    Anh bị bắt vì tội gì?
-    Tôi không biết.
-    Vô lý. Phải có tội mới bị bắt. Anh làm nghề gì?

Mậu nửa đùa nửa thật:

-    Nghề văn nghệ sĩ.
-    Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, nhớ kỹ nhé, tội anh là tội văn nghệ sĩ.

Tội văn nghệ sĩ. Tếu, nhưng cũng là sự thật. Tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, sau 1975 cũng bị đem ra trưng bày tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Nguỵ như sách của chúng tôi. Nội dung những tác phẩm Dương Nghiễm Mậu cũng bị đem ra mổ xẻ và đả kích thậm tệ ở các lớp học, các buổi họp và trên đài phát thanh. Cái “tội văn nghệ sĩ” người ta định cho Mậu ở buổi thẩm vấn Phan Đăng Lưu, tôi biết Mậu công nhận và còn công nhận mãi. Như một ở cùng cảnh ngộ với bằng hữu. Như một tin tưởng vĩnh viễn ở chính mình, và qua bản thân, ở văn chương. Văn chương với Dương Nghiễm Mậu mang cái ý nghĩa tốt đẹp và toàn vẹn nhất của một tự thành. Con đường đi vậy là trước sau thông suốt. Những bước chân đi trên con đường ấy vậy là đã tới.

Tin nhà đưa sang cho biết hiện giờ nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã trở thành công nhân một xưởng sơn mài. Bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn gần như trên hết thảy đã ngừng viết và đã phải đổi nghề. Để sống. Để có lao động, để được yên thân. Nghe nói Nguyễn Thuỵ Long đi đạp cyclo. Nghe nói Trần Lê Nguyễn bán sách cũ. Nghe nói Nguyễn Đình Toàn nuôi thỏ nuôi gà ở làng Báo Chí cũ. Tất cả đều dãi dầu, tất cả đều sương nắng. Nghe những tin nhà về bạn bè, thấy lòng xót xa buồn rầu, nhìn thấy những khổ cực đang chồng chất lên những thân thể chữ nghĩa thất thế. Riêng Dương Nghiễm Mậu, không hiểu sao tôi lại thấy vui vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn.

Công nhân xưởng sơn mài. Cây dù đen Tú Xương. Đúng là cảnh “sáng vác ô đi tối vác về” rồi nhé, Dương Nghiễm Mậu! Những tấm sơn mài. Cây dù bên cạnh. Tôi đang hình dung ra Dương Nghiễm Mậu ngồi một mình trong một xưởng thợ lạc loài. Muốn hỏi Mậu ở Việt Nam nghìn dặm: “Những tấm sơn mài ấy có vẽ hình sông núi quê hương?” Chắc là có. Chắc là có. Không trong tranh thì trong tim, trong hồn, trong thức, trong ý. Và cái nền của sơn thì vẫn là một con đường. Con đường đi qua đời sống. Con đường đi qua văn chương. Con đường đẹp nhất, vì con đường thẳng tắp. Con đường đẹp nhất, vì là con đường một mình. Cuối cùng là đứa trẻ mồ côi trong truyện ngắn đầu tay “Rượu Chưa Đủ” của Dương Nghiễm Mậu sự thực không bao giờ mồ côi. Mồ côi là những kẻ khác kia.

Mai Thảo

Cali. tháng 8, 1985.