Wednesday, June 9, 2021

THÔNG BÁO: Từ 10 tháng 7.2017, Blog Phạm Cao Hoàng được chuyển thành Trang VNNT Phạm Cao Hoàng. Xin các bạn vui lòng vào địa chỉ mới phamcaohoang.com để xem.

Tuesday, June 8, 2021

Tập thơ ĐẤT CÒN THƠM MÃI MÙI HƯƠNG - Thơ Phạm Cao Hoàng - Bản điện tử - Thực hiện tháng 5/2021



MỤC LỤC                             

                                                                                                   

BẠT của Nguyễn Xuân Thiệp

01. Sau chiến tranh trở lại Tuy Hòa

02. Thăm một người bạn cũ

03. Người thi sĩ ấy không còn làm thơ

04. Trở về mái trường xưa

05. Chiều New Delhi

06. Mây khói quê nhà

08. Thức cùng em đêm nay

09. Khi dừng lại bên dòng Potomac

10. Rồi cuối cùng cũng phải chia tay

11. Mây trắng

12. Dù sao vẫn cám ơn đời

13. Bây giờ

14. Đã qua rồi một mùa đông

15. Mười ba năm, quy cố hương

16. Đi cùng em giữa Đà Lạt sương mù

17. Chia tay Đà Lạt

18. Ước mơ của người họa sĩ

19. Ngày tôi trở lại miền đông

20. Dran, ngày về

21. Chia tay Ngựa Ô

22. Thương nhớ Ngựa Ô

23. Mây ngừng bay

24. Đà Lạt và câu chuyện về khu vườn thi sĩ

25. Scibilia, ngày cuối thu

26. Mai kia tôi là hạt bụi

27. Đóa hoa hồng trong tuyết

28. Cũng may còn có nơi này

29. Cha tôi

30. Mùa thu Đức Trọng

31. Tôi đi dưới trời đông bắc

32. Trần Hoài Thư xuống núi

33. Bài cho Orlando

34. Dẫu thế nào con cũng trở lại miền trung

35. Tôi về Bellingham chiều nay

36. Ở New Jersey, gặp lại Phạm Văn Nhàn

37. Chiều đ ingang qua thung lũng Fox

38. Thơ tặng người thi sĩ ở Garland

39. Xin cho tôi được làm người Việt Nam

40. 42 năm, chưa quên

41. Tôi đang vẽ tâm hồn của bạn

42. Bò và người

43. Woodbridge, buổi chiều và những nụ cười

44. 4 năm sau ngày anh Đinh Cường ra đi

45. Sau 35 năm chưa một lần trở lại quê nhà

46. Ước mơ của Myla   

47. Quà sinh nhật cho em    

48. Rồi một hôm chim bay về núi cũ

49. Chàng đi 24 năm

50. Giã từ năm cũ                                    

ĐẤT VÀ NGƯỜI Bài viết của Phạm Văn Nhàn                         

 

B Ạ T

cám ơn những sáng êm đềm

khói cà phê quyện bên hiên nhà mình

 

Hai câu thơ trên của Phạm Cao Hoàng thật bình dị nhưng đã ở lại trong tâm trí nhiều người. Riêng người viết những dòng này không hiểu tại sao từ lâu nay hồn cứ vấn vương ý thơ trong hai câu vừa trích dẫn của bạn minh.

 

Và cũng xin được nói lên một điều vẫn giữ cho riêng mình, rằng tôi từng đi qua những thành phố chiến tranh những ruộng đồng trong bóng hoàng hôn thấy trăng lên trên khu rừng cháy dẫm chân lên đất khổ lưu đày qua nhiều hải cảng mưa buồn sân ga xứ người để rồi về đây được ngồi lại bên hiên nhà với khói cà phê của thơ Phạm Cao Hoàng. Ôi, giản dị, êm đềm và ấm áp biết bao - và đó là hạnh phúc vừa tìm lại được.


Thật ra tôi chỉ mới được đọc thơ Phạm Cao Hoàng cũng như quen biết anh trong những năm gần đây thôi, không như nhiều bạn bè đã từng gần gũi và mê thơ anh thời tóc hãy còn xanh lòng đầy mộng tưởng. Tại sao mình có sự thiếu sót này nhỉ? Có lẽ vì ở những năm tháng ấy đi qua chiến tranh nhưng còn mải mê theo bạn bè và những bóng đời chung quanh - mà đôi khi ra ngoài vòng văn chương chữ nghĩa. Không gian sống của mình có giới hạn nhưng những vườn hoa trái của người thì mênh mông.

 

Tôi tìm hiểu xem các bạn đã thấy gì, nghĩ gì về thơ và con người Phạm Cao Hoàng trong những năm chiến tranh. Đoàn Thị Thư ghi lại: …”Trước 1975, Phạm Cao Hoàng nổi tiếng trên các tạp chí Bách Khoa, Vấn Đề, Văn, Khởi Hành, Thời Tập, Ý Thức… với những bài thơ tình yêu. Điểm nổi bật trong thơ của Phạm Cao Hoàng là những xúc động đẹp, nồng nàn, và nhẹ nhàng về những điều mà tình cảm anh nắm bắt được”. Trần Hoài Thư cũng ghi nhận: …“Những năm cuối thập niên 60, và đầu 70, thơ Phạm Cao Hoàng đến với người yêu thơ như là một hiện tượng”. Trần Yên Hòa cho biết: …“Tôi đọc thơ anh hồi còn tuổi thanh niên phơi phơi, bây giờ tìm lại trong tập thơ này  (Mây Khói Quê Nhà), tôi vẫn giữ cảm xúc ấy, bồi hồi và xúc động”. Mang Viên Long nữa đã viết như sau về thơ Hoàng: …“Một không gian thơ trầm lắng, xanh biếc, dạt dào cảm xúc, chơn chất, hồn nhiên, phóng khoáng… Tôi rất thích những bài thơ mặn nồng tình nghĩa đối với quê hương, gia đình, bạn bè và cả những bài thơ tình của Phạm Cao Hoàng vì chúng đã gợi nhớ trong tôi bao điều uẩn khuất mà chưa có thể giải bày. Phạm Cao Hoàng đã nói hộ cho tôi  (cũng như nhiều người) cùng thời, cùng cảnh ngộ, rất trung thực, chân tình”.

   

Ôi, cũng vì lòng yêu thơ và yêu người, tôi đã ghi nhận lan man. Bây giờ xin đi vào tập thơ Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương. Tập thơ gồm khoảng 30 bài Phạm Cao Hoàng viết trong 40 năm  (1975 – 2015). Lại một lần nữa hai câu thơ có khói cà phê bên hiên nhà trở lại trong trí Nguyễn. Do đâu mà đất còn thơm mãi mùi hương? Đất nào? Quê nhà hay ở nơi đây?

  

 Xin khoan trả lời câu hỏi. Ta hãy nói tới cái tình của nhà thơ đối với quê hương, đất nước. Cao Thoại Châu một lần đã viết về Phạm Cao Hoàng: … “Anh đang sống ngoài quê hương mình nhưng trong hồn anh - hồn của một nhà thơ - vẫn đọng lại những thao thức day dứt mà đậm đà đằm thắm làm cho lòng yêu mến quý trọng của tôi đối với anh trở nên bền vững…”

   

Quê hương, mảnh đất chôn nhau cắt rốn của Phạm Cao Hoàng là Tuy Hòa. Tuy Hòa với hình sông, bóng  núi,  ruộng đồng, bãi biển, ga xe lửa…  Ôi, Tuy Hòa của một lần trở lại năm 1976.   Xin hãy nghe lời kể của Phạm Cao Hoàng:

 

khi về thăm lại cố hương

thấy quê nhà nghĩ càng thương quê nhà

hắt hiu một bóng mẹ già

một ngôi mộ cỏ xanh và khổ đau

bâng khuâng một chút vườn sau

ngậm ngùi ngõ trước lao xao nắng vàng

đã qua chưa cuộc điêu tàn

đám mây năm cũ biết tan nơi nào

(SAU CHIẾN TRANH TRỞ LẠI TUY HÒA - 1976)

   

Hơn 20 năm sau, năm 1999, Phạm Cao Hoàng trở về thăm lại Phú Thứ để hít thở mùi hương ruộng đồng và mường tượng lại hình bóng người cha thân yêu. Cái tình của nhà thơ đối với đất cũ người cũ thật là sâu xa cảm động. Trong đó có ngôi trường về thăm lại. Vẫn còn đó gốc phượng già, cây bàng trên sân nhưng bạn bè thì đã thất tán. Chỉ còn lại nỗi buồn nhớ và cô đơn. Ôi, đất Tuy Hòa đối với Phạm Cao Hoàng thân thương biết bao bởi ở đó có hương đất và mồ hôi nước mắt của cha ông, có bạn bè của một thời đầy tiếng động.

  

Quê hương, với Phạm Cao Hoàng, không chỉ là Tuy Hòa,  mà còn là Đà Lạt nữa. Ở đó đặc biệt có Cúc Hoa, người yêu son sắt và là bạn đời của anh.


Cái tình đó sâu đậm, sắt son và mãi mãi.  Dấu chân hai người đã in cùng khắp - dưới chân đèo Prenn, trên những con đường dã quỳ vàng, quán cà phê Tùng, quán nhạc Lục Huyền Cầm, con dốc Nhà Làng, rừng thông Đa Thọ, những chiều Thủy Tạ, những sáng mù sương trên mặt Hồ Xuân Hương… Hãy nghe lời kể nồng nàn của Phạm Cao Hoàng:

 

mười năm và mười mùa đông

trong hơi thở có hương nồng em trao

có tình em rất ngọt ngào

trong  veo như giọt sương đèo Prenn

nồng nàn như đêm Lâm Viên

như  Đà Lạt với lời nguyền năm xưa

tôi và em vẫn đi về

trên con đường có nhiều hoa dã quỳ

có hò hẹn thuở tình si

có gian nan có nhiều khi rất buồn

(NGƯỜI THI SĨ ẤY KHÔNG CÒN LÀM THƠ – 1985)

 

Đà Lạt thân yêu là vậy mà phải chia xa:

và tôi lại chia tay Đà Lạt

chia tay những con đường in dấu chân xưa

chia tay rừng thông và cỏ cây sương khói

chia tay mây trời và gió núi Langbiang

mong bình yên đến với Kim Huê

và những người ở lại

mong một ngày về…

dù chưa biết khi nào

(CHIA TAY ĐÀ LẠT – 2012)

 

Tôi yêu Đà Lạt bởi có Cúc Hoa trong đó. Dường như ta nghe Phạm Cao Hoàng thì thầm như vậy. Ít người có được cái tình và những lời như tác giả Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương nói với người bạn đời của mình. Cảm động nhất là những lúc gian nan, hoạn nạn. Như cách đây mấy năm khi  Cúc Hoa phải vào nhà thương cấp cứu vì bị đụng xe, lúc trở về  phải ngồi xe lăn:

 

hôm em ở bệnh viện về

cụm hoa trước ngõ cũng vừa ra bông

đã qua rồi một mùa đông

và qua rồi những ngày không tiếng cười

em đi xe lăn mà vui

lăn đi em nhé cho đời bớt đau

tôi đưa em ra vườn sau

để nhìn lại mấy luống rau em trồng

hái tặng em một đóa hồng

và chia nhau nỗi long đong xứ người

em đi xe lăn mà vui

lăn đi em nhé cho vơi nỗi buồn

đưa em về phía con đường

có con sóc nhỏ vẫn thường chào em

hát em nghe bài Je t’aime

kể em nghe lại chuyện tình Cúc Hoa

em đi xe lăn về nhà

mùa xuân nhè nhẹ bước qua bậc thềm

(ĐÃ QUA RỒI MỘT MÙA ĐÔNG – 2012)

 

Cũng  nhờ ngọn lửa tình yêu  cháy mãi , Phạm  Cao Hoàng đã vượt qua tất cả để yêu đất yêu người nơi đây. Ngoài cái tình với Cúc Hoa, ở Phạm Cao Hoàng còn có tình bạn thắm thiết.  Tất cả góp phần tạo nên cuộc sống của Hoàng quê người… Người yêu Cúc Hoa và bạn bè quả đã giúp anh cảm được hơi ấm của vùng đất mới. Khác với một số người thơ cùng thời, Phạm Cao Hoàng tìm được niềm vui thanh thản, một cõi bình yên cho tâm hồn.

   

dù sao vẫn cám ơn đời

cỏ cây và gió mặt trời và hoa

cám ơn những đám mây xa

đang bay về phía quê nhà chiều nay

cám ơn những sớm heo may

lạnh se sắt lạnh bên này đại dương

cám ơn giọt nắng vô thường

lung linh ở cuối con đường khổ đau

dù sao vẫn cám ơn đời

biển xanh và sóng núi đồi và em

cám ơn những sáng êm đềm

khói cà phê quyện bên hiên nhà mình

đứng bên bờ vực tử sinh

vẫn nghe em hát bản tình ca xưa

(DÙ SAO VẪN CÁM ƠN ĐỜI – 2009)

   

Đọc thơ Phạm Cao Hoàng, ta thấy tâm hồn anh đầy nhân hậu, bao dung và độ lượng, luôn mở rộng đón nhận những âm vang của đất trời. Ở Phạm Cao Hoàng, không có sự ganh ghét, thù hận hay ra vẻ trí thức triết lý với đời. Thơ anh trong sáng, tự nhiên, bình dị;  nhẹ nhàng đi vào hồn người. Đọc thơ Phạm Cao Hoàng ta tìm được niềm an ủi trong tình yêu, gia đình, bạn bè, quê hương đất nước và cuộc sống chung quanh mình.

 

NGUYỄN XUÂN THIỆP

Garland (Texas),  tháng 5. 2015


Tuesday, May 25, 2021

DU TỬ LÊ Phạm Cao Hoàng, Tiếng Thơ Tách Thoát Khỏi Mọi Trào Lưu Thời Thượng



Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới.

 

Với hai thi phẩm xuất bản lần lượt các năm 1972, là  “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn,” rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích.

 

Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!”

 

Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà, rất gần nhân thế; rất gần tình yêu con người và; đất nước của ông.

 

Với tôi, đó là chủ tâm đem vào thơ những địa danh họ Phạm đã sống, như đã từng chết trong chúng.

 

Với tôi. Đó là hình ảnh không thể thân thiết hơn với đấng sinh thành, với  người yêu (cũng là người bạn đời “Cúc Hoa”) và, với rất nhiều bằng hữu gần, xa trong đời thường của người thi sĩ, vẫn nâng niu, chữ, nghĩa, dù ở nơi chốn nào nơi xứ người…


TRƯƠNG VŨ Thơm Mãi Mùi Hương

Photo by PCH, Phú Thứ, 9.2017


Tôi quen nhiều người làm thơ. Thơ có hay, có không hay. Bạn có thân, có sơ. Thế nhưng, không phải ai cũng để lại trong tôi những ấn tượng đẹp, những tình cảm sâu đậm, dù với người có nhiều thơ tôi thích. Giữa thơ với người thường có khoảng cách.

Tôi nhận được tập thơ “ĐẤT còn thơm mãi mùi hương”, ấn bản sau cùng, của Phạm Cao Hoàng (PCH) vào đầu thu 2018 khi đang ở San Jose, California. Ấn bản mới đẹp hơn, nhiều thơ hơn, nhiều phụ bản hơn. Mở tập thơ ra xem, tôi có cảm giác như vẫn ngồi đâu đó ở Virginia, với vợ chồng Hoàng, cháu Thiên Kim, với bè bạn thường lui tới, giữa cái rộn ràng của cỏ cây đang rực màu thu của vùng đông bắc. Ở PCH, thơ và người luôn đi liền nhau. Trong tập thơ nhỏ, khoảng 100 trang, tôi thấy ở đó cả một đời người. Có tình yêu đậm đà cho quê hương, nồng nàn cho cha mẹ, vợ con, gia đình, và tình bạn thắm thiết. Nhiều bạn. Người mất, người còn.

DUYÊN ANH Cũng Gọi Là Một Chuyến Đi

Nhà văn Duyên Anh (1935-1997) - Photo by Cao Lĩnh

Ông Võ Hồng - ta cứ gọi ông là nhà văn tỉnh nhỏ đi, chắc chắn ông không nổi giận và chắc chắn tác phẩm của ông chỉ có lớn lên - ở đường Hồng Bàng. Quen ông lâu rồi nhưng trở thành tri kỷ của ông từ mùa mưa năm ngoái, nhân chuyến đi trên con đường bụi với sư huynh Mai Tâm. Võ Hồng chung tình hơn một thi sĩ quá cố là Đông Hồ. Đông Hồ khóc vợ chết vang vọng cả đất nước nhưng vẫn tục huyền. Võ Hồng thì không khóc, cũng chẳng “làm thêm” tí vợ nào. Vợ hiền của ông bỏ ông bơ vơ giữa cõi đời hệ lụy, bay bổng lên một vùng trời cao để ông ngàn năm Hoài Cố Nhân, để ông làm kiếp gà trống nuôi con. Ngót hai mươi năm “lạnh lùng”, bây giờ những cánh chim đã đủ lông cánh bay khỏi cái tổ bên Con Suối Mùa Xuân. Cô Hằng vô Sài Gòn theo đại học. Cậu Hào qua Tây Đức ôm mộng làm đẹp quê hương. Cô Thủy  sắp rời căn nhà đường Hồng Bàng. Ông Võ Hồng của tôi tính chuyện lên chùa ở. Ông lên chùa à? Làm gì? Ông già rồi, bộ tính lên chùa… trốn quân dịch ư? “Gần chùa gần bụt ta tu quách” ông ơi, tôi sợ ông đi tu thấy mồ. Nghĩ tới Võ Hồng, tôi chợt nhớ mấy câu thơ của Nguyễn Bính “Giăng Dối”:

Con nó đâu rồi bế lại đây
Để tôi bên nó một vài giây
Trước khi nhắm mắt. Tôi thừa biết
Đời nó sau này hẳn đắng cay.

Người chết ưa nghi ngờ người sống. Tôi tin rằng bà Võ Hồng “trước khi nhắm mắt” đã rất tin ông Võ Hồng. Và nay, những đứa con của ông bà đều đã nên người, chẳng “đắng cay” chút nào. Phần thưởng dành cho nhà văn gà trống nuôi con là các nữ độc giả của Võ Hồng mê văn ông đã đành, mê cả sự chung tình với vợ của ông. Tạp chí Văn vừa loan tin Võ Hồng giờ Như Cánh Chim Bay, ông muốn nhào vô cơn Gió Cuốn… lấy vợ. Tại hạ có lời can. Ông ơi “Cái vòng lấy vợ cong cong. Kẻ hòng ra khỏi, người mong chui vào”.

 Đường Hồng Bàng tới rồi, số nhà mấy?
-  53.

Vài cái nhấn chân đạp, xe đậu trước cửa nhà ông Võ Hồng. Tiếng chó sủa ỏm tỏi. Võ Hồng từ trong phòng bước ra:

- A, tưởng ai.
- Sao lại tưởng ai?
- Gió nào thổi ông tới đây?
- Mưa… mác xít ở Đà Lạt, thứ mưa tồi tệ.

Vào phòng khách của nhà văn Võ Hồng. Thấy hai người trẻ tuổi, dáng dấp rất phong sương đang ngồi hút thuốc lá. Bèn xảy ra sự giới thiệu:
- Đây là Phạm Ngọc Lư, đây là Phạm Cao Hoàng…

NGUYỄN MINH NỮU Phạm Cao Hoàng, Hào Sĩ Đất Phương Nam



Ba mươi chưa hỡi người tuổi trẻ…

 

Đó là câu thơ mở đầu một bài thơ của Phạm Cao Hoàng. Khi đọc bài thơ này vào năm 1971 trên tạp chí Ý Thức, tôi rất xúc động. Lúc ấy tôi đang ở Đà Lạt và tôi không biết gì về tác giả ngoài cái tên đọc trên báo. Bài thơ tôi không thuộc hết, chỉ nhớ bốn câu và cái cái tên Phạm Cao Hoàng.

 

ba mươi chưa hỡi người tuổi trẻ

mà trông như tóc đã hoa râm

chân đã mỏi trên đường phiêu lãng

cuộc bể dâu vùi dập biết bao lần

 

Những năm tháng cao điểm của chiến tranh, cao điểm một thời tuổi trẻ khắc khoải, chúng tôi sống như trong một chảo lửa vào đầu thập niên 70 ở Việt nam hồi đó. Câu thơ thường dội lên trong lòng tôi mỗi ngày, trằn trọc mỗi đêm và làm tôi nhớ đến bây giờ.

 

Không hiểu bài thơ đó Hoàng viết cho mình, hay viết cho một người bạn nào, nhưng tôi mường tượng ra Hoàng gửi cho tôi, hoặc những người giống như tôi đầy dẫy trên đất nước này vào thời  bấy giờ. Năm đó tôi 21 tuổi.

 

Chúng tôi không có bất kỳ một liên lạc gì với nhau, chiến tranh càng lúc càng lan rộng, tôi lưu lạc nhiều nơi: Ban Mê Thuột, Nha Trang, Kon Tum, Pleiku và sau 1975 thì về lại Sài Gòn mưu sinh. Cái thời “văn nghệ văn gừng” cũng chìm đắm đâu đó trong sâu thẳm. Rồi tới năm 1995, tôi rời Việt Nam qua định cư ở Hoa Kỳ với một thân thể kiệt quệ, trí óc mỏi mòn và gánh nặng cơm áo di dân.