Wednesday, February 22, 2017

2748. Thơ TRẦN HUIỀN ÂN Bài hát ngày về


Coming home – Tranh Ninjatic



Ta ngồi lại soi xuống dòng suối rách
Vốc nước lên kỳ cọ mặt mày
Hồi ta ra đi hai bàn tay trắng
Giờ ta trở về trắng hai bàn tay

Giá như người xưa...gác gươm sườn đá
Tháo đôi giày cỏ thả trôi
Cởi áo vắt vai cười ha hả
Vời trông bốn hướng đất trời

Ta, một kẻ hèn - kẻ hèn đời mới
Hèn, không đáng mặt kẻ hèn
Đức bạc tài sơ, bảy chìm ba nổi
Sao còn vất vả đua chen

Dãy đồi bên kia là lau là cỏ
Có cây đa già toả mát trăm năm
Giá như người xưa- cùng bầy trẻ nhỏ
(Mặc áo Huyền Đoan đội mũ Chương Phủ)
Múa ca vui với trăng rằm

Ta còn gì chăng? Trái tim nguội lạnh
Ta còn gì chăng? Khối óc rỗng không
Tầm mắt yếu không đủ nhìn cuối dặm
Đâu bóng con trâu nhoà nhạt giữa đồng

Mặt sạm da mồi tóc râu ngã bạc
Ta trở về quê lỡ thợ lỡ thầy
Muốn theo Lão Tiều non du hái củi
Sợ lưỡi rìu làm chảy máu thân cây

Trần Huiền Ân
1 9 9 9



2747. Thơ LÊ PHƯƠNG NGUYÊN Vầng dương còn lấm bụi mù


Ảnh: internet



Thôi thì rũ áo phong sương,
Xếp tàn y, giữ chút hương giang hồ.
Đã không dựng được cơ đồ,
Cầm bằng mây khói giấc mơ đổi dời…
Mênh mông một nỗi đau đời;
Giật mình ngoảnh lại kiếp người phù du
Vầng dương còn lấm bụi mù
Không soi thấu đến bể sầu thế nhân


Lê Phương Nguyên
Điền trang Lộc Xuân
18.7.2004

Tuesday, February 21, 2017

2746. Thơ PHẠM CAO HOÀNG Người thi sĩ ấy không còn làm thơ


Hoa dã quỳ Đà Lạt  (Nguồn: vietjet.net)



mười năm và mười mùa đông
trong hơi thở có hương nồng em trao
có tình em rất ngọt ngào
trong  veo như giọt sương đèo Prenn
nồng nàn như đêm Lâm Viên
như  Đà Lạt với lời nguyền năm xưa
tôi và em vẫn đi về
trên con đường có nhiều hoa dã quỳ
có hò hẹn thuở tình si
có gian nan có nhiều khi rất buồn

mười năm và mười mùa đông
người thi sĩ ấy không còn làm thơ
còn chăng là tiếng ngựa thồ
thở khi lên dốc bụi mờ mịt bay
còn chăng là hai bàn tay
đã chai sạm với tháng ngày gian nan
còn chăng là mây lang thang
trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông
còn chăng là đêm mênh mông
người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi

Phạm Cao Hoàng 
1985

Đàlạt nostalgia
sơn dầu trên giấy plast 18 x 20 in
dinhcuong

2745. Tranh TRƯƠNG THỊ THỊNH: Chợ chiều - Sơn dầu trên bố, 30" x 40", 1990


Tranh
TRƯƠNG THỊ THỊNH


Chợ chiều
sơn dầu trên bố, 30" x 40", 1990
___________________________

Tranh phong cảnh của chị chịu ảnh hưởng nhiều cảnh cây cỏ, sông, nước, thuyền bè của vùng quê Mỹ Tho, Sa Đéc, Tân Châu, v.v… mà lúc còn trẻ, khi đi tản cư, sống trôi nổi với gia đình chị lớn và bà con ở đó. Đẹp, êm đềm, thuyền bè trên sông nước có bao la nhưng không vô tận, không có thảm kịch. Những trẻ thơ trong tranh của chị tươi mát, hồn nhiên. Những bông hoa màu sắc rực rỡ, đầy sức sống. Những loại tranh này của chị không biểu lộ hết tài năng của chị về sử dụng màu sắc hay bút pháp nhưng đáp ứng được ước vọng của chị là tạo cảm giác thanh bình, hạnh phúc nơi người xem. (Trương Vũ - Vài nhận xét về tính cách hậu ấn tượng trong tranh Trương Thị Thịnh).

Monday, February 20, 2017

2744. PHAN NI TẤN Chết cha con dế


Dế mèn – Nguồn: lemenbros.com


Hôm nay tôi xin kể cho các bạn nghe chuyện cũ rích mà tuổi thơ hầu như ai cũng biết. Thưa, đó là chuyện chơi đá dế, một trò chơi gắn liền với tuổi thơ ở quê nhà. Có điều, dế có hàng trăm hàng ngàn loài dế, kể sao cho hết. Nhưng gần gũi nhất là mấy chú, mấy thím dế dưới đây:

Dế cơm
Tôi không biết tại sao con dế cơm lại có tên là... dế cơm. Nó có giống... hột cơm téo nào đâu. Hay là dế cơm có thân mình trăng trắng, mấy cái chân của nó cũng có đốm trăng trắng nên người ta gọi nó là dế cơm? Đã vậy nó thuộc giống bự chảng, bự nhất trong tất cả loài dế. Nó to cở ngón chân cái, to gấp ba lần chú dế cồ. Nội cái giò của nó búng "pặt" một phát, chú dế lửa nổi tiếng hung hăng nhất cũng bị bắn văng xa... cả cây số.
Hồi nhỏ, trẻ con tụi tui không ai bắt dế cơm cho đá lộn; cũng không phải để... nướng ăn như người Thượng. Í ẹ. Chính mắt tui nhìn thầy thằng Y Nghỉ trong buôn Cô Thôn chợp được chú dế cơm liền ngắt đầu, lặt cánh, "bọp" lòi ruột xong nó làm bộ đưa con dế vô miệng nhai cho tui sợ để nó khoái chí cười chơi.. Thật ra sau đó nó lấy que xuyên bụng dế đem hơ lửa cho chín xong vừa chu mõ thổi phù phù vừa nhai rào rạo ngon lành. Thằng Y Nghỉ táo tợn còn khoe nó từng ăn rắn, rít, bo cạp, ếch, nhái nướng trui. Hồi đó tụi tui đâu có thằng nào dám... "rừng" như thằng này.
Ra đồng ra ruộng lật cục đất lên thấy chú dế cơm là tui nghĩ ngay tới thằng Y Nghỉ. Nói không ai tin, có lúc bất ngờ gặp phải anh dế cơm "bá đạo" thấy tui con nít con nôi vô hại nó nghênh mặt dòm lên thấy bắt ghét. Nếu con dế cơm biết "xì" thì nó cũng "xì" một phát rồi... phủi đít phóng đi.

Dế chó
Cũng như dế cơm, không biết tại sao con dế chó có tên là... dế chó. Nó có giống téo tèo teo nào hình dáng của con... gâu gâu đâu!? Ngay cả con mắt, cái mũi, cái lưỡi, cái tai, cái móng chân hay sợi lông đuôi cũng không mảy may "tương cận" nữa là!
Ngoài dế chó đầu đen, mình đen còn có dế chó mình đen, đâu đỏ. Trẻ con tụi tui thấy nó còn không thèm dòm, ở đó mà bắt chơi. Nó nhỏ xíu hà. Đâu chừng 3mm là cùng. Sau này nghe nói dế chó dùng để nuôi chim chóc hay làm mồi câu. Tội nghiệp cái kiếp... dế chó.

Dế mèn
Nói tới dế mèn người ta thường nhớ tới câu chuyện Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài, một loại truyện ngụ ngôn thật hay, hoặc ư ử bài hát thiếu nhi Thằng Cuội của nhạc sĩ Lê Thương thật mộc mạc dễ thương từ âm điệu tới lời ca. Tội nghiệp ông nhạc sĩ nhân từ. Thương thằng Cuội cô đơn ngồi ôm một mối mơ nên tác giả nhét vô bản nhạc đủ thứ món trên trời dưới đất, từ bóng trăng, ngọn gió, cây đa, ánh sáng cho tới cái thang, trong đó "có con dế mèn, suốt trong đêm khuya, hát xẩm không tiền, nên nghèo xác xơ"
Vậy dế mèn là dế gì, ai mà không biết. Đây nè:
Dế mèn là chú dế có hình dáng nhỏ xíu xìu xiu, thân dẹt, rầu dài, thường có màu tro. Hồi đó trẻ con tụi tui sợ quê nên không đứa nào chơi dế mèn. Hầu hết ở đâu cũng thấy nó: đồng  ruộng, bụi cỏ, đống đá, hang hóc, góc nhà.... Dế mèn thường sống về đêm, con trống có tiếng gáy rỉ rả, rỉ rích dai dẳng suốt canh khuya. để dụ con cái.

Dế Nhũi
Dế nhũi còn gọi là dế trũi là thứ dế trẻ con tụi tôi ghét nhất ,vì nó có hình dạng xấu xí nhất trong các loài dế: Thân dài khoảng 3 tới 5mm, mắt tròn tròn, hai chân trước như hai cái xẻng đào đất cát để nhũi xuống trốn kẻ thù nên gọi là dế nhũi.
Dế nhũi thường ở dưới đất, trong các hang động nên ít khi thấy, chúng tường kiếm ăn ban đêm.

Dế đá
Hồi nhỏ, ngoài các trò chơi như " Rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê, u mọi, ô quan, đánh thẻ, thảy lỗ, tạt lon, tạt hình, búng thun, chọi đáo, bắn bi, đánh trõng, đá cầu... , đá dế là môn trẻ con tụi tui đứa nào cũng chết mê chết mệt. Đi học về là quăng cặp sách ôm hộp dế chạy đi chơi đá dế với đám con nít quỉ hàng xóm.
Phải nói dế than dù to con hơn nhưng không ngon bằng dế lửa. Vì ít khi bắt được dế lửa. Dế lửa đã hiếm mà xung trận lại hăng hơn dế than, hầu như đá đâu thắng đó. Dế cũng giống như... người, trước khi xáp -lá -cà có nhiều chú dế hù địch thủ bằng cách nhe càng, gáy ren rét thị oai. Ê càng hay thua thi xoay đầu bỏ chạy,  thắng thì dế nhà ta phùng cánh gáy vang lừng. Không có gì hấp dẫn cho bằng tiếng dế gáy lúc thắng trận.
Dế có hai lớp cánh xếp gọn gàng đẹp mắt trên lưng, phủ từ ngấn cổ xuống đít. Dế màu đen thì gọi là dế than. Dế màu lửa lửa thì gọi là dế lửa. Ông bà mình nhìn mặt đặt tên không trật chỗ nào. Cặp cánh phía ngoài dầy và khá trong suốt. Lúc gáy hai cánh phùng lên cọ vào nhau liên hồi tạo nên âm thanh rét rét nghe đã cái lỗ nhĩ.
Dế mà mất lớp cánh phía trong thì gọi là dế trục.Không những không tổn hại gì tới dế mà nhiều khi càng..." trục" càng dễ nổi khúng, đá rất hăng. Tui có thằng bạn học tên Sơn khoái chơi dế trục nên chết danh Sơn trục.   
Hình như dế gáy bất kể giờ giấc. Dế gáy lúc tinh sương, hay giữa trưa hè nắng gắt, gáy lúc chiều tà hay đêm khuya lơ đều làm cho trẻ con tụi tui không ngớt háo hức, xốn xang. Đặc biệt là tiếng "chịch mái". Nghe tiếng "chích chích" đều đều, liên tục là biết anh dế trống đang "dê" chị dế mái. Lúc "dê", hai cái đít anh chị cạ vào nhau trông thiệt ngộ. Dế trống không có hai cái kim nhọn ở đằng đít như dế mái. Hai cái kim đó để cắm xuống đất khi dế mái đẻ con. Trời sanh nhiều cái thiệt ngộ he.
Bạn bè tuổi thơ, ngoài hai anh em Khánh già và tui, còn có Quế ù, là bộ ba thân thiết nhất. Anh tui có gương mặt dài như mặt ngựa và coi già già thì tụi bạn hàng xóm đặt tên là Khánh già. Tui mắt hí chết danh Hòa hí. Quế tròn ù thì gọi là Quế ù.Vì là hàng xóm nên đi học cũng rủ nhau đi, về cũng chờ nhau về, chơi trò chơi gì cũng có mặt, nhất là đi bắt dế.
Bắt dế có nhiều cách: bỏ kiếng bù nhọt hoặc đổ nước xuống hang, một chặp sau  dế nhà ta bị kiếng cắn hoặc ngộp nước là trồi đâu lên ngay. Dế bắt được đem về đựng trong hộp bánh bích quy hoặc trong hộp quẹt. Thức ăn của dế thường là cỏ, gía sống, rau sam, bánh mì, cơm nguội.
Thập niên 1950-60, ra khỏi thị xã Ban Mê Thuột chừng một cây số là gặp rừng, thế giới của các loài động vật. Rẫy dì Mại, nghĩa địa làng, khu Rau Xanh, suối Đốc học, suối Mu-ri, đồn điền CHPI... đều in dấu chân tuổi thơ tụi tui đi bắt dế.  
Trong "ba chàng nhà quê núi", Khánh già cao ngòng, ốm nhách, chững chạc, là tay bắt dế số dzách. Tánh tình Quế ù hay lăng xăng lít xít, bộp chà bộp chộp. Vừa nghe tiếng dế gáy xa xa là Quế nhà ta lính qua lính quýnh; miệng cà lăm, chân đâm đầu chạy tới. Lần nào cũng bị Khánh già chửi thề nhặng xị. Tui vốn nhỏ con làm việc gì cũng vụng về, chậm lụt. Có lần tui lớ quớ thò tay vô lon sữa bò bắt dế ra đá bị nó cạp cho một phát la làng. Đau toé khói tui rút tay ra vẫy mạnh một cái "bịch". Vừa mút máu ngón tay tui vừa nhìn xuống đất thì thấy "chết cha con dế" rồi. Thuở đời nay, con ruồi con muỗi tui còn không giết huống hồ con dế thân yêu. Thấy nó bẹp di mà tui ngẩn ngơ tiếc muón đứt ruột.
Chuyện mới đó thoắt một cái đã ngót 60 năm trời. Ngày nay Quế ù (vẫn tròn ù) và tui đã lưu lạc xứ người và đều đang ở cái tuổi cổ lai hi. Đôi khi ngồi một mình nhớ lại chuyện đời xưa tôi không biết ông anh Khánh già của tui và hồn mấy con kiến, con dế đang làm gì. Nhưng tôi biết chắc một đìều khi gặp lại nhau, bằng một trái tim dịu dàng và chân thành"họ" đều gợi đến sự thông cảm, tha thứ cho nhau cũng như san sẻ cho nhau niềm hạnh phúc trên thiên đàng.
Trong thi ca Việt Nam, có những câu thơ nói về con dế thiệt hay mà cũng thiệt bồi hồi:
Con dế vẫn là con dế ấy. Hát rong bờ cỏ giọng thân quen (Tô Thùy Yên)
Nghe con dế gáy sao em thương cái góc nhà (Cao Huy Khanh).
Phan Ni Tấn
February 2017

2743. Thơ LÊ PHƯƠNG NGUYÊN Trở về trường cũ của em


LÊ PHƯƠNG NGUYÊN
Trở về trường cũ của em


"Người phụ nữ nhìn qua ban công"
tranh  Mai Trung Thứ vẽ năm 1940, từng được bán đấu giá
tại Hongkong với mức 70,000.00 USD



Cổng truờng vàng nhuộm nắng mai
Đâu đây dáng cũ u hoài ngày xưa
Hoa vàng nhẹ cánh đong đưa
Rêu phong mái ngói đủ vừa nhớ thuơng
Biết đâu trên những con đuờng
Hiu hiu còn chút mùi huơng gót mình
Đôi bồ câu trắng xinh xinh
Tròn đôi mắt, biết bóng hình nguời quen
Có con buớm lạ màu kem
Khua nhanh nhịp cánh bên thềm tìm hoa
Đám mây nào của ngày xa
Trắng phau nguyên dáng hào hoa gọi mời
Còn trời xanh nữa mây ơi
Dang tay rộng đón mộng đời thanh xuân
Thời gian từng giọt bâng khuâng
Như quên, như nhớ, như gần, như xa  
Mùa xuân xanh biếc trôi qua
Thơm màu dĩ vãng lòng pha ngậm ngùi …
                                           
Lê Phương Nguyên
1982

Sunday, February 19, 2017

2742. LÊ VĂN THIỆN Truyện ngắn CHẬP CHỜN

Source: khohinhnen.com




          Yên chơi thân với Hạt, Lưu từ thời trung học, ở Đà Lạt. Về sau, lớn lên, anh trôi giạt từ Trung vô Nam, rồi quay ngược ra. Nay Yên trở lại Đà Lạt một mình, trong vai du khách. Anh ăn uống ở các quán hạng trung, ngủ trong một khách sạn be bé. Sang ngày thứ hai, tình cờ, may mắn, Yên gặp Lưu. Qua Lưu anh nối lại sợi dây thân tình với Hạt… Trước khi đến thăm vợ chồng Hạt, Yên ở nhà Lưu ba ngày.
        Trang trại của Hạt nằm trong xó núi Tiên Hà, cách thị trấn Tam Dương hơn mười cây số. Đây là vùng mới khai phá trong đợt di dân năm 1982. Trên khu rừng rộng, rậm rạp, chỉ có tám mươi nóc nhà, trong đó có ba mươi hộ người Raglai. Gia đình Hạt, bốn người, ở trong hai ngôi nhà lớn, còn mới. Sáu người làm công – chuyên trồng rau cải, chăm sóc cà phê – và một chị chăn bò, sống trong căn nhà mái tôn vách gỗ, cách nhà chủ chừng trăm mét.
        Đất vườn rộng, có nhiều người giúp việc, trông Hạt ra dáng ông chủ… Tám giờ tối, Hạt và Yên uống cà phê. “Tối qua, giấc này, mình và Lưu dạo phố”, Yên nói. “Đi những đâu?”, Hạt hỏi. “Từ Võ Tánh xuống rạp xi-nê cũ, xuống Bùi Thị Xuân, vòng qua Phan Đình Phùng… Nay phố lớn, đường rộng, người đông”. “Đông hơn xưa bảy lần”. Yên lặng vài phút. “Đổi mới hay ăn xổi?”. Nghĩ suy khá lâu. “Nó mang cả hai bản mặt đó… nhưng mặc nó, tìm đâu cho ra sự hoàn hảo trên cõi đời ô trược này”. “Ô gì”. “Ô trược!”. Hạt cười ha hả. “Dạo chơi, đi chậm, nhìn ngắm, nhớ lại thời trước”. “Xưa kia, ngày cũ, hồi đó… lớn tuổi thường quẩn quanh với chùm quá khứ, dĩ vãng, lắm lúc nó khiến ta bải hoải, mệt nhoài”. “Không nhớ thì làm gì.” Đà Lạt là núi đồi và thông. Thông mất nhiều, còn chừng phân nửa. Có người nhớ nó. Giới bô lão lẩn thẩn tiếc thương nó. Bọn trẻ chắc không biết, chẳng để ý. Bụng để ngoài da, chúng chỉ quan tâm máy móc, xe cộ, điện thoại… “Đi thế này mình nhớ Thái Phương, liên tưởng vụ sóng thần Thái Lan”, Yên nói. Ngày 26 tháng 12 năm nào du khách quốc tế cũng đổ về Thái đốt nến, thắp nhang trên các bãi biển, tưởng niệm những thân nhân của họ đã chết trong trận sóng thần tai ác năm 2004. Qua chuyện này, ta thấy dân Tây không khô khan, lớt phớt. Xa xôi như thế mà lặn lội đến để khóc, tưởng nhớ… Con người nhỏ bé, cõi đời bảng lảng, chênh vênh.
        Mới đó mà hơn ba mươi năm. Từ Đà Lạt lên hốc núi Tiên Hà này chỉ tám chục cây số, nhưng đã khá lâu Hạt không gặp Lưu. Cuộc sống của hai người khác nhau xa. Mối thâm tình của tuổi mộng mơ ngày càng lợt, nhòa. “Chuyện vợ chồng Lưu xộc xệch lắm”, Hạt nói. Nghe vậy, biết vậy, Yên chưa hề gặp Ngộ, vợ Lưu. Hạt nhận xét: Ngộ mang trong người dòng máu nghệ sĩ. Con nhà giàu, nghề nghiệp sáng rỡ, lại ôm anh chàng lêu bêu, chẳng có một nét nổi bật nào, không nghệ sĩ là gì? Nay anh chị vẫn còn là vợ chồng, nhưng sống riêng, làm ăn riêng, bề ngoài nom có vẻ bình lặng, yên ổn, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy có những vết xám bất thường bao quanh họ. “Con cái thì sao”, Yên hỏi. “Một trai chừng mười tuổi, sống với ông bà ngoại”. “Nay Lưu làm gì”, Hạt hỏi. “Không rõ, anh ấy đi suốt ngày, tối mới về. Ở nhà chỉ có ông già và chị ôsin”. “Có dạo Lưu buôn bán gỗ, rồi vào Bạc Liêu nằm lì mấy năm, nuôi tôm làm muối”. Vậy thì, Lưu mới là nghệ sĩ, không phải Ngộ.
        Trời đẹp, Lưu – Yên thả bộ suốt hai tiếng. Đi, nhìn, ngó quanh quất, thấy sướng. Lưu nói, lâu nay anh không đi thế này, hễ ra khỏi nhà là lên xe. Đi, ôn lại cảnh cũ trong đầu, nhớ những hàng thông, những triền đồi rợp vàng hoa cúc dại… Xưa, Yên hay tắm nước nóng ở một tiệm nhỏ, không tên, gần cà phê Tùng, nay tiệm không còn. Nhà giặt ủi đông khách kế bùng binh, gần chợ cũng không còn. Mất cũng phải, lâu quá, hơn ba mươi năm. Có lẽ đó không phải mất, nó tiến hóa? Hai nhà sách Khải Minh, Tuyên Đức chiều nào Yên cũng ghé vào mua báo, đã qui tiên. Hai khách sạn Thanh ngọc, Vinh Quang trước rạp xinê vẫn còn, cao to hơn trước, giờ mang tên mới… Có những thứ nhỏ, vụn vặt nhưng cũng có hồn cốt, khiến người ta khó quên, như tiệm giặt ủi, nhà tắm nước nóng. Tắm nước nóng, dịch vụ độc đáo, đặc sản Đà Lạt. “Chiều xẩm, bỏ chiếc khăn nhỏ, cục xà bông thơm trong túi áo jacket, tạt vào nhà tắm quen, tẩy trần hai chục phút, sạch sẽ thơm tho, trước khi ăn cơm, dạo phố”, Yên nói. Lưu cười. “Hàng bánh xèo bên hông rạp xinê, trước tụi mình thường ăn, còn không”, Yên hỏi. “Còn, nay người khác bán”… Đi loanh quanh, nghĩ vẩn vơ, mỏi chân, hai bạn tấp vào một quán cà phê vỉa hè. Cà phê không nhạc, có hai bàn cờ tướng, một nhóm người trẻ đánh cờ. Hai ly đen đá. “Hai đen đá, cô chủ!”. Một câu thường, quen thân, nhưng có chút gì đó làm ta xốn xang.
        Yên nói: “Tôi còn nhớ tên mấy khách sạn: Việt Nam, Mimosa, Cao Nguyên… các hiệu ảnh Ngọc Dung, Đại Việt”. Lưu khen: “Tài, anh nhớ giỏi. Khách sạn còn có Thanh Tùng, Phú Hòa, Sài Gòn… Thế, quên các nhà sách Khai Trí, Hòa Bình, Văn Hóa, Liên Thanh rồi sao?”… Nói đến cà phê không thể bỏ qua quán Tùng. Cà phê Tùng như người tiên, không già. Nhược điểm của nó là nhỏ hẹp, nằm chỗ ồn ào, nhưng lớp người cũ vẫn nhớ nó. Chủ quán hiện giờ là con ông chủ cũ. Nhiều người khen, anh này được lắm, có máu văn nghệ. Anh vui mừng khi tiếp đón các vị khách xưa. Những người đó bước vào, anh nhận ra ngay. Anh bảo, trông cách ngắm nghía, dáng ngồi, kiểu uống của họ, mình biết, không lầm… Ngay tối đầu tiên lên đây, Yên ghé lại Tùng, một mình. Quán thưa khách, còn sớm, nhạc mở nhỏ, phảng phất dư âm cũ. Cái gì rồi cũng qua. Ai rồi cũng sẽ già. Núi còn mòn nói chi người. Còn biết yêu thiên nhiên, nhớ thương những nét đẹp, những hương vị ấm nồng một thời là mừng. Yên nhớ lại, cố nhớ tên những bản nhạc mình thường nghe tại quán này, trước đây. Một cô tiếp viên đến, hỏi mấy câu, Yên đáp qua loa, cô bé bỏ đi.

Đọc tiếp...

Saturday, February 18, 2017

2741. Tranh TRƯƠNG THỊ THỊNH: Ánh hồng trên sông sơn dầu trên bố, 24" x 36", 1990


Tranh
TRƯƠNG THỊ THỊNH


Ánh hồng trên sông
sơn dầu trên bố, 24" x 36", 1990

2740. Thơ LE PHƯƠNG NGUYÊN


Photo by PCH - Scibilia, 2015



Giữ lửa
                                    
Mùa mưa đến, giữ dùm nhau chút lửa,
Để cho lòng bếp ấm chín niêu cơm,
Để được nhìn mái tranh chiều khói tỏa,
Thời gian trôi, không lạnh nữa trong hồn…
                                         

Một cõi riêng
                                   
Ngày tháng trôi trên tóc trắng bay,                                   
Cảm ơn hương của cánh hoa gầy,
Cảm ơn mây trắng, trời xanh nữa                                  
Và cả không gian tĩnh lặng này….


Nói và nói…
                                   
Nói, nói, nói…                                   
Khi nói đã trở thành phương tiện
Để gạt lừa và chụp mũ, thị uy…                                   
Thì phận người mỏng manh như sợi khói,                                   
Bay lên trời giỏi lắm chỉ thành mây…

   
Gửi em bên trời viễn mộng
                                   
Em xiêm áo vui bên trời viễn mộng,
Ta lưng trần, vai cuốc nắng mênh mông,                                   
Và gió nữa, gió phủ đầu lồng lộng,                                   
Rồi mưa chiều dìm ướt tuổi hoàng hôn…


Hoa sứ

Hoa sứ, trời ơi, hoa sứ nở !
Vườn hoang mây trắng gọi chim về…
Cửa nát, thềm rêu,tường ngói vỡ,
Người đâu ? hương sứ quyện bơ vơ…


Buổi trưa bên ngoài…

Những cánh hoa vàng hay hoa nắng
Đầy thềm; sắc phượng đỏ trời xanh,
Ngoài xa mây đã ngàn năm trắng,
Ta đã ngàn năm đợi gió lành…


Cái xấu và cái ác

Khi cái ác đã lẫn vào trong máu,
Dẫu thiên đường gạ đổi cũng không xong;
Khi con tim đã ươm mầm cái xấu,
Nơi chin tầng địa ngục vẫn đâm bông…

    
Xuân đến ở một làng quê

Mồng một Tết anh nằm nghe lệ nhỏ,
Chị ngồi bên giếng nước rửa khoai mì,
Đàn trẻ nít lưng trần vui với gió…
Đóm lửa chiều ai đốt tiễn xuân đi…

                                          
Nhớ bạn
                                 
Đêm nay rượu có không người uống,
Lạnh cả vầng trăng lạnh chiếu nằm;
Khói thuốc lên xanh đèn thắp muộn,                                   
Mới mà như chuyện đã trăm năm !

                                 
Hồi ức
                                   
Nhà Em bên sườn núi,                                   
Buổi chiều xuân Em về…                                   
Áo trắng bên đường dương liễu biếc,                                    
Ba mươi năm sau anh làm thơ…

                                 
Tìm em
                                  
Nơi Em qua cơn gió lạ thổi về,
Xoá sạch hết dấu giày in trên cỏ;                                    
Anh ngơ ngác tìm hương chìm trong gió,                                   
Chỉ thấy trời hung bạo đuổi mây đi…

                           
Nhìn lại
                                   
Năm mươi tuổi lẻ đời chưa khá                                   
Trăm bước phong trần, mấy bước vui.                                   
Nghìn phiến thời gian chừng hóa đá,                                   
Một áng mây trôi đủ ngậm ngùi…

                                          
Trở lại Sài Gòn sau 15 năm
                                   
Vầng trăng bạc chòng chành trong vũng nước,
Gió hoang mang dằn vặt lá trên cành,                                   
Anh cúi xuống: mong manh mùi cỏ ướt,                                    
Nhớ vô cùng một thuở tóc còn xanh…

                            
Một buổi chiều
                                   
Chiều nay thấy gió tung tà áo,
Chợt nhớ người xưa đến quặn lòng,
Chiều nay vàng nắng chìm trong tóc,                                   
Hương của thời gian có đợi không ?                                   
Chiều nay mây của ngàn năm cũ,
Vẫn cứ ung dung bỏ cánh đồng.
Ta đã từ lâu người cô lữ                                   
Trên lối đi này giữa núi sông…

                            
Sống đợi
                                   
Ngày cứ thế lom khom chờ nắng tắt,
Đêm cựa mình thao thức đợi bình minh.                                    
Ta vẫn sống với ngọn đèn lay lắt,
Trong tối tăm soi đủ nỗi riêng mình…


Cõi quê
                                   
Chút gió bấc thổi vào trong đêm vắng,
Mùa đông ấu thơ lặng lẽ hiện về;                                   
Trời phương ấy dưới chòm sao lấp lánh,
Khuất trong lòng một cõi gọi là quê…


Đêm không ngủ
                                                                        
Ngoài song trời đã nhạt nhòa sương,
Có một vầng trăng lặng lẽ buồn,                                   
Hiu hắt gió ngàn xa thổi tới,                                   
Bên thềm để lạc một làn hương…


Đọc sử cảm hoài
                                   
Nguyễn Trãi xưa nỗi oan đời khốc liệt,
Sá chi ta bé nhỏ giữa quê nhà;                                   
Vẫn ao ước dẫu một vầng trăng khuyết,
Xin trải lòng soi rõ mặt Người, Ma…


Về quê thăm mộ
                                   
Quê cũ Cha nằm nghỉ với Ông,
Hoang vu trời đất, chiều mênh mông…                                   
Vội vàng con ghé về thăm mộ,                                    
Đốt nén hương lên nặng trĩu lòng!

Lê Phương Nguyên