Saturday, August 13, 2016

2457. Tranh ĐINH TRƯỜNG CHINH Phố, xám



t r a n h  
đinh trường chinh



PHỐ, XÁM
oil on canvas • đinh trường chinh  • tháng 8.2016




2456. Thơ LỮ QUỲNH Chiều mưa trên thành phố nhỏ


LỮ QUỲNH
chiều mưa trên thành phố nhỏ

oil on canvas 24 x 30 in • dinhcuong



chiếc xe buýt chạy vòng không bến đỗ
bốn mươi phút một lần qua chỗ cũ
tôi cùng em đứng đợi dưới mưa chiều
bên kia đường nghĩa địa đìu hiu
bia mộ liêu xiêu mịt mù trong gió
ngã tư ở đây không đèn xanh đèn đỏ
it lối băng dành cho khách bộ hành
em quấn khăn quàng cổ màu xanh
như tranh Đinh Cường thời Thiếu nữ
tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa
nhưng lòng luôn sẵn lửa cho em
và tình luôn ấm áp trong tim
để sưởi em ngày đông tuyết giá
tội nghiệp những con đường xe qua buồn bã
không bóng người chỉ bong bóng mưa xao
em con chim sâu nhỏ thuở nào
tôi bụm tay mớm mồi tưởng tượng
nay vẫn đẹp lẫy lừng cao thượng
dịu dàng như khí hậu Bắc bán cầu

có chuyến xe nào chở hết nỗi đau
âm ỉ trong em. Nay thành niềm An lạc.

Lữ Quỳnh
Watertown, New York,  13.7.2005.


Thursday, August 11, 2016

2455. LỮ QUỲNH Mùa thu Paris


LỮ QUỲNH
M ù a  T h u  P a r i s


Vườn Luxembourg
Photo by Lữ Quỳnh


Tặng Jacques Ng.

1.
Bốn giờ sáng, taxi đưa ra ga Eurostar London St Pancras để lên chuyến tàu đầu tiên đi Paris, khởi hành lúc sáu giờ. Nhà ga rộng lớn, hiện đại chẳng khác gì một phi trường quốc tế. Cũng phải làm các thủ tục an ninh: bỏ giày, điện thoại, áo khoác, xách tay, và những thứ lỉnh kỉnh khác… vào khay cho qua máy. Rồi điền giấy khai hải quan… Vé lên tàu có ghi số toa, số ghế. Tàu sẽ dừng đúng số toa của mình, đầu mỗi toa có nhiều ngăn để hành lý. Tàu chạy với vận tốc 300 km/giờ, qua biển Manche. Mình chỉ nhận biết lúc tàu bắt đầu vào hầm tối và ra khỏi hầm, với thời gian hơn hai mươi phút. Kể từ ngày khai trương vào năm 1994, Luân Đôn và Paris không còn bị chia cắt bởi biển, chỉ có hơn hai tiếng đồng hồ để qua lại.



Đến Paris Gare Du Nord đúng 9 giờ 20. Đi hai đoạn métro ngắn là tới khách sạn đã đặt phòng trước. Vì ở Paris chỉ có ít ngày, nên phải lên lịch ngay, đi thăm một số nơi.

Thầm cám ơn các website văn học, vì nhờ đó mà Jacques đã đọc và lần mò hỏi ra địa chỉ email của tôi. Tên Việt của Jacques là Thạch, con nuôi của người cô họ tôi.

Lúc tôi trưởng thành, Thạch còn nhỏ lắm. Tôi thương Thạch vì cứ nghĩ đến nỗi buồn thiếu vắng tình thương cha mẹ ruột của nó. Tôi không nhớ những lần đi chơi với Thạch, đã cư xử, nói ra những gì. Chỉ biết lần cuối cùng gặp nhau vội vã ở Nha Trang vào giữa tháng 4 năm 1975, thời điểm những ngày tàn cuộc nội chiến. Rồi thời gian dài sống lăn lóc trong sa mù thời cuộc, như bầy gà bươi móc mỗi ngày để kiếm sống, ngụp lặn trong cái u tối đói nghèo, ngu dốt; còn chút ánh sáng nào đâu để soi rọi ký ức mình…

Cho đến một ngày đầu năm nay, tôi nhận email của Thạch, chỉ mấy giòng ngắn ngủi, luộm thuộm, thiếu dấu thiếu chữ, nếu là anh của email này thì trả lời em ngay. Tôi trả lời Thạch. Những thư tiếp theo, Lần cuối em gặp anh đến nay đã 36 năm rồi! Em đang sống ở Paris.

Khi biết tôi sẽ ghé Paris, Thạch vui lắm. Thạch hẹn gặp tôi ngay buổi trưa đầu tiên ở khách sạn. Rất đúng giờ, Thạch đến. Thay vì mừng rỡ vồ vập, tôi đứng lặng người nhìn Thạch. Trước mắt tôi là một người Pháp già, lưng hơi còm, mái tóc muối tiêu, tên là Jacques.

Ôi, Thạch của ngày nào đây, chỉ còn nét mặt và giọng nói không thay đổi. Jacques cười, ông chủ khách sạn tưởng em là người Pháp nên nói toàn tiếng Tây! Thì em là người Pháp rồi còn gì, đã sống ở Paris 28 năm!

Chúng tôi ăn trưa ở quán Phở 14. Thạch nói quán phở này ngon nhất Paris đó anh. Trong lúc ăn, Thạch lên chương trình đưa tôi đi chơi một số nơi. Paris với hệ thống métro chằng chịt, trên cao dưới thấp, mà Thạch thuộc nó như trong lòng bàn tay. Vì thời gian hạn hẹp, chúng tôi không thể đi sâu vào mỗi nơi. Như khi phải đứng từ xa mới có thể nhìn hết được Viện bảo tàng Louvre, chứ đừng nói vào được bên trong, phải mất ít ra vài tuần mới đi thăm hết được. Louvre, công viên Tuileries, quảng trường La Concorde, Khải Hoàn Môn nằm trên một trục thẳng. Cảnh vật suốt dọc các công trình rất đẹp và nhiều nơi ghi dấu lịch sử. Vườn Tuileries, đang là mùa thu, lá vàng rơi đầy mặt đất. Đại lộ Champs Élysées có tiếng đẹp nhất thế giới, rất đông du khách đi bộ. Cái lạnh chớm thu nằm sau những chiếc khăn quàng của các bà các cô, rơi hững hờ trước ngực.

Giờ cao điểm ở các trạm métro, cứ hai phút có một chuyến, mọi người đứng sát nhau, không một biểu lộ khó chịu, cảnh đó rất bình thường trong sinh hoạt hằng ngày.

Để đến một địa chỉ, đôi khi phải đổi tàu vài ba lần, phải đi thang máy hoặc leo bậc cấp lên trạm métro phía trên, hay đi vòng xuống trạm phía dưới. Có những đường tàu nằm sâu cả mấy trăm mét trong lòng đất.


2.
Nước Pháp với dân số 67 triệu, mà khách du lịch nước ngoài hàng năm có tới  80 triệu người, dẫn đầu thế giới trước cả Mỹ, Ý, Tây Ban Nha. Những lúc nghỉ chân bên bờ sông hay trong công viên, Thạch kể về những tháng năm đầu tiên trên đất Pháp. Qua câu chuyện, tôi biết cuộc sống Thạch sau nhiều năm khó khăn vất vả ở xứ người, giờ đây đã ổn định, các con khôn lớn đều thành đạt.


Hơn ba mươi năm trước hai vợ chồng với ba cháu nhỏ sống nheo nhóc dưới gầm cầu thang nhà người mẹ nuôi, chưa được sáu mét vuông diện tích, ở một thành phố miền Trung. Nhớ mỗi lần tôi ghé thăm, vợ Thạch vội vã chạy qua quán giải khát cạnh nhà đem về một chai cam vàng với ly đá. Không có chỗ đặt chai nước, tôi cầm ly đá trong tay, đứng hỏi chuyện Thạch vài ba điều rồi ra ga đi chuyến tàu tối vào Nam. Tình cảm trân trọng, quý mến người bà con xa trong cảnh nghèo khó của vợ chồng Thạch làm tôi xót xa. Mấy năm sau Thạch và gia đình được định cư ở Pháp theo diện con lai. Thạch bị bệnh thận nặng, phải lọc máu mỗi tuần ba lần suốt 5 năm nay, thế mà vẫn đi thoăn thoắt, bước hai bậc cấp một, thỉnh thoảng còn dừng lại chờ tôi.

Xuống métro, lên métro, chỉ hai phút là có tàu, tôi phải bước thật nhanh mới theo kịp Thạch, dù hắn luôn quay lui nhìn tôi giữa đám đông chỉ thấy đầu người nhấp nhô vội vã.
Trước khi đến nhà thờ Notre-Dame, chúng tôi đi bộ trên Rue De La Paix. Đây là một đại lộ đẹp có nhiều cửa hàng bóng lộn, rất đông du khách, dẫn đến quảng trường Vendôme nơi đặt tượng đài Napoléon.

Lúc chúng tôi dừng chân trước Notre Dame de Paris, du khách đã xếp hàng dài để lần lượt đi vào cánh phải của nhà thờ. Ngay cửa vào có một quầy bán tượng và hình ảnh lưu niệm. Rải rác bên trong, đặt những chiếc máy như máy rút tiền ATM, để du khách tự động bỏ vào hai euro và nhận lại một medal kim loại tròn mạ vàng, trên một mặt khắc hình nhà thờ, mặt kia có hình thập tự với giòng chữ Cathédrale Notre-Dame de Paris.

Nhà thờ này xây dựng từ 1163 nhưng vì có nhiều sự cố, mãi đến 1345 mới hoàn thành. Mái vòm cao với những khối đường nét tuyệt mỹ. Những khung kính lớn lộng lẫy nhiều màu sắc tồn tại từ bao thế kỷ nay. Rất nhiều tượng mang ý nghĩa trong Kinh Thánh, mà tôi là người mến Chúa nhưng ngoại đạo, không thể nào hiểu hết.

Cùng với các tín đồ đang cầu nguyện, tôi ngồi xuống một băng ghế sát tường, bên cạnh tôi là Kim. Thạch ngồi ở dãy ghế giữa. Tôi nhìn tượng Chúa trên cao, cảm thấy lòng thanh thản. Đây là lần thứ hai tôi vào nhà thờ, không ngờ lại là một nhà thờ nổi tiếng, mà văn hào Victor Hugo đã lấy bối cảnh để viết tác phẩm bất hủ The Hunchback of  Notre-Dame (ở Việt Nam, anh Trần Quang Huề chuyển ngữ “Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà” trước năm bảy lăm.)

Còn lần thứ nhất tôi đến giáo đường, cách nay hơn bốn mươi năm, ở một thành phố nhỏ ven biển miền Trung. Lần đó còn rất trẻ, vào một buổi sáng tôi đưa người bạn gái vào đây. Nhà thờ vắng vẻ. Những hàng ghế trống im lìm. Chúng tôi đứng cạnh nhau sau hàng ghế cuối, tôi bảo nàng nhìn lên tượng Chúa và im lặng. Rất trang trọng, mấy phút sau tôi hỏi, Kim có biết tôi vừa nói gì với Chúa không. Nàng gật đầu, mắt long lanh ướt. Tôi thầm cám ơn Chúa và nắm tay Kim rời nhà thờ. Tôi đã cầu hôn nàng như thế đó.

Bây giờ người con gái thuở ấy đang có mặt ở đây, trong ngôi nhà thờ danh tiếng Notre-Dame, cách xa nhà thờ năm xưa nửa vòng trái đất. Người con gái với áo dài lụa trắng được đón đưa trước cổng trường Sư Phạm ngày nào, giờ đây với mái tóc điểm nhiều sợi bạc, hạnh phúc vượt qua những tháng năm khó khăn, gian khổ bên cạnh chồng con.
Tôi nhìn lên tượng Chúa nhân từ giữa giáo đường uy nghi rộng lớn, và như khi đứng trước Chúa bốn mươi năm về trước ở quê nhà, tôi thầm ngỏ lời cám ơn.

Thạch ngồi ở hàng ghế giữa, mắt nhắm, miệng lâm râm cầu nguyện.

Chúng tôi đi vòng lối ra ở cánh trái nhà thờ. Những bức tường bên ngoài với nhiều phù điêu, hình tượng nghệ thuật rất đẹp được trang trí công phu, nói lên tài nghệ tuyệt vời của điêu khắc gia những thế kỷ trước.

Từ sân nhà thờ băng qua đường, chúng tôi ghé một quán cà phê, ngồi ở dãy bàn đặt dọc vỉa hè giữa đám đông du khách. Thạch luôn miệng hỏi, anh có mệt không? Tôi thấy thương Thạch vì bệnh mỗi tuần phải lọc máu ba lần, lại luôn quan tâm đến người tương đối còn sức khỏe dù tuổi có cao.


3.
Ở thế hệ chúng tôi, trước những năm sáu mươi ngồi ghế nhà trường trung học, không ai là không nhớ bài học thuộc lòng “Ngày Tựu Trường” của Thanh Tịnh, và đoạn văn của Anatole France tả cậu bé với chiếc cặp trong tay, đi qua vườn Lục Xâm Bảo vào một buổi sáng mùa thu, lá vàng rơi trên những pho tượng trắng… Ngờ đâu nửa thế kỷ sau, tôi lại được ngồi trong công viên Luxembourg cũng vào một buổi sáng mùa thu, giữa những bức tượng trắng và lá vàng rơi đầy mặt đất.


Luxembourg, công viên lớn thứ hai của Paris, sau Tuileries, được đặt nhiều tượng danh nhân  như Beethoven, Paul Verlaine, Georges Sand, Saint Genevieve, …. Công viên cũng là bối cảnh nổi bật trong tác phẩm Les Misérables của Victor Hugo. Nhiều chiếc ghế dựa bằng sắt có thể xê dịch được, để du khách thoải mái chọn góc nhìn ngồi nghỉ ngơi. Cuối công viên bên phải là một lâu đài có hồ nước lớn phía trước, tiếp với một vườn hoa đầy sắc màu rực rỡ.

Hơn năm mươi năm trôi qua, từ một cậu bé lòng như khăn mới thêu, từng xúc động bởi hình ảnh  mùa thu ở vườn Lục Xâm Bảo ngày nào, nay với mái tóc bạc đang ngồi đếm tháng năm còn lại của đời mình trên đầu ngón tay. Nhìn những pho tượng trăm năm còn đứng đó, nhớ đến cậu bé của Anatole France ngày nào cùng những người đã một lần qua đây, mà ngậm ngùi làm sao!

Một ngày lang thang dưới bầu trời đầy mây và trong những đường hầm métro, tôi không giấu được nét mệt mỏi dù cho nhiều thắng cảnh, di tích lịch sử ở đây luôn cuốn hút bước chân mình. Jacques thường nhìn tôi với ánh mắt ái ngại. Còn tôi tham lam giành giựt với thời gian, phải tận mắt nhìn cho được những gì mà mình chỉ biết qua sách báo và chuyện kể. Thạch đưa chúng tôi đi bộ qua nhiều nơi.

Nào Place Vendôme ở trung tâm Paris, nối liền với đại lộ De La Paix. Giữa quảng trường là tượng Napoléon đứng chót vót trên một trụ đồng tròn có chạm trổ hoa văn hình xoắn ốc cao trên hai trăm mét, để kỷ niệm ngày chiến thắng quân Áo năm 1805. Ông là một vĩ nhân, được ca tụng là người “khi trên lưng ngựa thì chiến đấu lẫy lừng, lúc xuống ngựa là một nhà cai trị đất nước kiệt xuất.” Sau cách mạng Pháp, ông lập ra triều đại Bonaparte, với những cải cách về luật pháp, bộ luật Napoléon đã ảnh hưởng rất lớn đến chính trị thế giới. Về giáo dục, các trường đại học được mở, đào tạo sinh viên bằng tiền nhà nước. Ông thành lập đơn vị hành chánh tự cai quản và xử lý lấy công việc. Napoléon mất năm 1821. Lăng mộ ông sáng lòa có thể nhìn thấy từ tháp Eiffel.

Nào Khải Hoàn Môn (The Arc de Triomphe), đài kỷ niệm nổi tiếng nhất, với 50 mét chiều cao, 45 mét bề rộng, từng chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử nước Pháp: Năm 1940 Đức đánh chiếm Paris đã cho quân diễn hành qua đây, trong khi thủ đô bỏ trống, mở đầu cuộc kháng chiến chống phát xít. Qua năm 1944,  Paris được giải phóng, đoàn quân chiến thắng của nước Pháp Tự Do trở về ca khúc khải hoàn, lại  diễn hành qua Khải Hoàn Môn lịch sử này.

4.
Buổi chiều đứng trên cầu Notre-Dame ngắm sông Seine, Jacques giành máy ảnh chụp tôi cho bằng được. Hắn nói anh toàn chụp cảnh không, ít ra phải có vài tấm để làm kỷ niệm chứ. Sông Seine đẹp, nhất là cảnh vật thơ mộng hai bên bờ. Tôi vừa đọc đâu đó, chỉ khúc sông chảy qua Paris đã có đến 37 cây cầu, mà nổi tiếng là Pont Neuf, cổ nhất, được xây bằng đá từ cuối thế kỷ thứ 16, có tượng vua Henri IV ngồi trên lưng ngựa. Tiếp đến là Pont Marie, Pont Royal, Pont Louis Philippe, … Theo Jacques cây cầu đẹp nhất là Pont Alexandre III, gần nơi an nghỉ của Napoléon. Hắn tiếc rẻ là tôi ở Paris ít ngày quá, không thể đi thăm hết được, và anh mới biết chưa được một phần trăm Paris!



Sông Seine, Paris
Photo by Lữ Quỳnh – Sept. 6, 2011



Đâu cần đi thuyền trên sông Seine, mà dù có muốn cũng không có thời gian, chúng tôi đứng tựa thành cầu, nhìn những chiếc tàu lớn lộ thiên chở đầy du khách chạy trên sông, luồn qua chân cầu hình vòm cung, thật êm ả.

Sông Seine. Trước mắt tôi là sông Seine. Bỗng cảm thấy có cái gì vướng nơi đáy cổ, cùng với nắng chiều đang tắt dần, khi nhớ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên qua Pháp trở về, khoảng đầu những năm chín mươi; ngồi uống rượu với anh, nghe anh kể về những ngày vui và bận rộn với bạn bè ở Paris, tôi nảy ý làm một phỏng vấn nhỏ. Bài viết gần như một tạp văn, lấy tựa “Trịnh Công Sơn, từ sông Hương đến sông Seine”, sẵn dịp nhà thơ Thái Ngọc San về Sài Gòn in báo, đã lấy bài này đăng trên tạp chí Sông Hương. Giờ đây hai anh đã đi vào cõi vĩnh hằng, đâu biết có kẻ còn lận đận ở trần gian, đang đứng bên giòng sông Seine của anh ngày nào, nhớ về sông Hương với các bạn Thái Ngọc San, Võ Quê, Lê Văn Ngăn… trong lần uống  rượu vang đỏ ở quán Thiên Đường (*). Không ngờ lần chia tay nhau hôm ấy là lần Thái Ngọc San và sau này, Lê văn Ngăn vĩnh viễn xa rời chúng tôi.

Sông Hương, sông Seine, những trái tim yêu thương đang ở rải rác khắp mọi miền, có nhớ về nhau là nhớ về một giòng sông, nơi từng in bóng anh em bạn bè, dù còn hay đã mất.

Kể từ ngày bỏ nước ra đi, Jacques chưa một lần về thăm chốn cũ. Hắn đã nhận Pháp là quê hương của mình rồi. Hai mươi tám năm sống ở Paris, những đền đài, phố xá, sông nước nơi đây đã làm nhạt phai hình ảnh một Hòn Chồng, cầu Xóm Bóng, Hải Học Viện Nha Trang mà tuổi thơ hắn từng yêu mến.

Chúng tôi ngồi xuống bậc thềm trước quảng trường tháp Eiffel, nhìn du khách đi thành đoàn vui vẻ chụp hình, quay phim. Dưới chân tháp người ta xếp hàng rồng rắn, dài hàng mấy trăm mét để mua vé lên các tầng trên. Giá vé cho mỗi tầng khác nhau: Lên tới đỉnh, tầng 3 là 14 euro, tầng 2- 8.20 và tầng 1- 4.10 euro. Sinh hoạt này kéo dài đến nửa đêm.

Tháp Eiffel xây dựng năm 1887, do kỹ sư Gustave Eiffel (1832-1923) thiết kế. Nó là một công trình kiến trúc bằng kim loại, trở thành biểu tượng nổi tiếng nhất, không những của Paris nước Pháp, mà còn được cả thế giới công nhận, mỗi năm có hàng triệu người leo lên chiêm ngưỡng. Trong số những công trình trứ danh của ông, ngoài Paris nước Pháp ra, còn có những công trình nổi tiếng trên nhiều quốc gia khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bỉ, Ai Cập, Hoa Kỳ, Việt Nam… Riêng tại Việt Nam, Gustave Eiffel đã xây dựng Bưu điện Sài Gòn, cầu Long Biên Hà Nội, cầu Trường Tiền Huế; những công trình còn đến ngày nay.

Như lần trước, khi rời Luân Đôn đến Paris bằng chuyến Eurostar đầu tiên, sáng nay chúng tôi giã từ thủ đô ánh sáng cũng trên chuyến tàu khởi hành lúc 6 giờ. Đêm qua trước khi chia tay Jacques, hai anh em ngồi với nhau trong một quán nhỏ, tôi uống vang đỏ, còn Jacques cũng uống nhưng chỉ nhấp môi. Trưa mai em lại vào bệnh viện lọc máu, vẫn chờ ngày được thay thận nhưng không biết đến bao giờ, em rất mừng gặp anh lần này. Rồi im lặng một lúc, giọng Jacques chùng xuống không biết em có còn lần thứ hai để gặp anh không? Tôi không nói gì, kể cả một lời cám ơn Jacques, vì tôi biết rằng kể từ đây Jacques mãi mãi có mặt trong đời sống chúng tôi.

Lữ Quỳnh

(*) Tên một quán cà phê bên bờ sông Hương, gần cầu Trường Tiền, Huế.



Tuesday, August 9, 2016

2454. NGUYÊN MINH Hình như tôi cũng bị thương


NGUYÊN MINH
Hình như tôi cũng bị thương



Một buổi sáng, ngủ dậy, tôi nhìn qua khung cửa sổ, thấy mọi vật đều thay đổi một cách lạ lùng. Mới ngày hôm qua, tôi còn nhìn được dãy nhà bên kia bờ thành, cái cao cái thấp, màu xanh màu đỏ, màu vàng, chen lẩn nhau, mơ mơ hồ hồ như cảnh vật ở miền cao nguyên. Hôm nay, bỗng dưng biến mất, bị che lấp bởi hàng cây xanh cổ thụ như hàng rào cao vút chắn ngang, dọc theo con đường nhựa trước mặt. Có phải tôi còn nằm mơ.

Những hàng cây phượng, những hàng cây cau cao vút, già cũng bằng tuổi tôi bây giờ. 70 tuổi. Chỉ một đêm, nó từ đâu mọc lên. Hay ai đã bứng ngôi nhà của chúng tôi đang ở một con hẽm nhỏ, quăng nó vào một không gian khác, nơi có hàng cây cổ thụ đó. Tôi bỡ ngỡ. Tầm nhìn của tôi bị giới hạn. Cứ mỗi lần mở cửa sổ ra là tôi bực tức, khó chịu như muốn nghẹt thở.
May sao, chỉ một tháng sau, trong chuyến thăm nhà ở quê vài ba ngày trở về, khi tôi vào phòng riêng việc đầu tiên là phải mở cửa sổ để lấy ánh sáng ban mai tràn vào. Những làn gió thoảng nhẹ nhàng từ khoảng trống rộng bao la trước mắt thổi vào, lướt qua da mặt của tôi, mát mẻ dịu dàng. Tôi ngạc nhiên vô cùng. Ô hay, hàng cây xanh cổ thụ đó đã biến mất. Trả lại cho tôi bãi cỏ xanh um, ngút ngàn, mênh mông, tôi cứ mang cảm giác mình đang đứng trước biển. Gió thổi từng cơn làm đám cỏ lau chập chờn uốn lượn như những con sóng từ ngoài khơi vỗ vào bờ.

*
Sáng hôm nay, như mọi ngày, tôi đang ngồi trước máy vi tính gõ lốc cốc những chữ trên trang bản thảo thì Lại, một người bạn văn mới, đến rủ đi chơi.

Buổi sáng sớm trời Sài gòn mát dịu, những con đường nhựa cũng đầy xe cộ chạy rộn rịp, đội trên đầu cái nón bảo hiểm nặng trịch, hai tay tôi ôm choàng lấy lưng người bạn mới. Chiếc gắn máy chạy chậm đủ để tôi nghe Lại kể chuyện. Giọng nói Quảng Nam lanh lảnh bên tai, nhưng có lúc tôi phải hỏi lại vì tiếng xe tải ồ ạt mới chạy ngang.

Một tiếng đồng hồ sau chúng tôi mới ra khỏi những con đường trong phố đầy ấp xe cộ. Ra đến ngoại ô, hai bên đường còn sót lại vài khoảng đất trống. Gió thổi vi vu. Lên đến giữa một cây cầu Lại dừng xe. Tôi nhìn xuống dưới. Con kênh nước màu xám nghịt lờ đờ như không muốn chảy. Dãy nhà sàn ổ chuột, lỏng chỏng nửa trên bờ nửa ra kênh, chỉ còn lưa thưa vài cái. Con đường chuẩn bị mở rộng, ngổn ngan đất đá. Trong trí nhớ mơ hồ tôi thấy những ngôi nhà này quen thuộc nhưng tôi chưa kịp nhớ ra gì từ nơi đây thì Lại hối lên xe.

Lại chở tôi đến một nơi xa lạ. Những khu nhà biệt thự bề thế, sang trọng, tường cao cửa kín, những con đường bao quanh tráng nhựa láng bóng, sạch sẽ không một cọng rác. Ngã tư đường không có đèn xanh đèn đỏ. Vắng vẻ. Không nghe tiếng xe cộ, cũng không thấy người đi bộ. Lại chở tôi đi khắp những con đường không gắn bản tên. Nhìn sững những hàng phượng già hai bên đường tôi nghĩ cái tuổi của nó cũng đã hơn 50 năm, còn những ngôi biệt thự này mới xây lại trên nền nhà cũ chăng? Tôi nói với Lại ý nghĩ này. Anh cười bảo nơi này ngày xưa là bãi đất hoang vu. Thời chiến tranh ai dám qua đây. Giờ người ta xây nhà biệt thự cho nhà giàu ở.

Tôi vẫn mang cảm giác lạc lỏng, xa lạ. Lại dẫn tôi vào một nhà hàng trong khu phố mới này. Rộng rãi. Cao ráo. Bàn ghế toàn là sa lông nệm thời thượng. Nền nhà lát gỗ bóng loáng thấy cả bóng người. Lại kéo tôi đến đứng trước tủ kính trưng bày những loại bánh dùng điểm tâm. Cả hai chúng tôi tự mang cà phê và bánh ngọt của mình đến chiếc bàn có hai ghế nệm đặt ở một góc nhà gần cửa ra vào. Cửa kính trong suốt tôi nhìn được toàn cảnh bên ngoài. Khách hầu hết là người ngoại quốc. Họ vui vẻ bô bô nói chuyện nhưng tiếng nói không lan ra được. Tôi chỉ thấy họ cười nhăn răng và hai tay cử động như một màn kịch câm. Còn Lại thì đọc cho tôi nghe bài thơ Đường vừa mới làm. Giọng hắn sang sảng, vẻ mặt đăm chiêu, nhưng tôi không cảm nhận được, không phải vì lời thơ mà vì cái không khí xa lạ này. Thấy tôi thờ ơ hắn im lặng. Còn tôi, tôi chỉ nhìn ra ngoài và đầu gật gật tỏ vẻ khó chịu.

Một lát sau, bốn cô gái thướt tha mang phần điểm tâm của họ lại ngồi bàn gần kề chúng tôi. Nhìn cách ăn mặc tôi cứ tưởng họ là người Hàn quốc. Da trắng mướt. Tóc búi cao, màu vàng ánh. Những sợi dây chuyền dài lòng thòng đến giữa vùng trũng đôi ngực tròn lẳn một ngọc bội bằng đá cẩm thạch. Hai tai lủng lẳng hai chiếc khoen bạch kim. Tôi tưởng họ sẽ xi xô tiếng Hàn. Nhưng không. Họ nói chuyện bi bô, giọng đặc sệt miền Bắc, khoe của khoe tài.

Đến lúc này tôi ngán ngẩm. Nhìn vẻ mặt nhăn nhó của tôi, Lại biết ngay, anh đề nghị ra ngồi ngoài hiên. Tôi gật đầu. Ngồi dựa mình vào thành ghế sa lông nệm, hớp một chút cà phê, đắng nơi miệng, nuốt xuống một cái, quên đi những hình ảnh vừa qua. Nhìn quang cảnh trời mây trước mắt, thở một hơi không khí trong lành,  lòng tôi mới man mác một nỗi buồn vu vơ.

Nhà hàng này có hàng hiên rộng và dài. Mái che đưa tận ra ngoài lề. Đường đi dành cho khách bộ hành được lát bằng đá hoa, bằng phẳng, thẳng tắp. Tôi chợt nhớ đến nhà hàng Continental trên đường Tự Do cũ, trước năm 1975. Nơi nầy khách ngoại quốc thường đến, và chúng tôi là những người làm báo cũng thỉnh thoảng bước vào, ngồi dựa ngữa vào ghế nệm, hít vài hơi thuốc lá Palmal, thả khói bay ra, nói chuyện bâng quơ. Thỉnh thoảng, một số phóng viên mang máy quay phim, cặp thêm chiếc mặt nạ, kèm theo bịch nước đá và nhiều trái chanh đã cắt nhỏ để đối phó với hơi cay. Bên kia đường cạnh nhà Quốc Hội đang diễn ra cuộc biểu tình. Cảnh sát mặc đồ rằn ri. Tay cầm chiếc chắn to như cái nia. Tay còn lại lăm lăm cây dùi cui, bên hông lủng lẳng vài trái lựu đạn cay. Xe GMC chắn ngang đường. Hết sinh viên đấu tranh. Xô xát. Bên quăng đá. Bên liệng lựu đạn cay xé mắt. Tiếng người la hét. Bắt bớ. Giằng co. Hết nhà báo mang bị vải rách, chống gậy làm ăn mày như cái bang trong truyện kiếm hiệp, tuần hành đòi tự do báo chí, đòi bỏ chế độ kiểm duyệt. Lại đến thương phế binh mặc đồ lính trận, đủ các binh chủng, hàng ngang đi tới trên những chiếc nạn gỗ bước loạng choạng, phía sau là những thương binh cụt chân ngồi trên xe lăn có đồng đội là kẻ mù lòa hai tay nắm chặt vào thành xe lần theo, họ giăng biễu ngữ, đòi phải có chính sách xứng đáng bồi thường một phần thân xác họ đã bỏ lại. Không có xô xát. Cảnh sát đứng im, bất động. Vẩy tay chào nhau.

Đó là một thời đã qua với những biến động lịch sử: những cuộc chỉnh lý, đảo chánh, lật đổ, cùng những bất ổn trong đời sống thị thành. Sau tháng 4 năm 1975 nhà hàng Continenal thành cửa hàng ăn uống Đồng Khởi, bảng hiệu màu đõ chữ vàng. Thời gian này, tôi cùng vợ con về sống tại ngôi nhà số 11 ở tận một thị xã miền Trung, thỉnh thoảng mới có dịp vào Sài Gòn. Tôi ghé vào đây, lòng đau nhói, nuốt không trôi những sợi mì, như có vật gì chận nơi cuống họng. Từ nhà hàng sang trọng, bỗng trở thành nhà ăn tồi tàn, khách tạp nhạp, bình dân, quần áo lôi thôi, bàn ghế xộc xệch. Khách hàng còn phải dành nhau mua phiếu thức ăn, và phải đến quầy nhận lấy rồi lơ ngơ không biết tìm chỗ ngồi nơi đâu vì gần như đã đầy người. Uống chỉ được một cốc bia hơi tiêu chuẩn, ăn một tô mì không phải như món đã ghi nơi phiếu là tô phở, thắc mắc hỏi lại, trả lời nhát gừng: hết rồi, không ăn thì mất. Đành cười trừ. Thế thôi. Quen rồi, đâu cũng thế. Tôi thèm bia nên phải vào. Lạ lẫm. Tôi khó chịu khi nhận ra mình như đang ngồi ăn tập thể trong nhà tù vì khi nhìn ra ngoài quán bị ngăn cách bao quanh bởi hàng rào bằng lưới B.40. Càng đau lòng. Càng nát tim khi tôi chứng kiến một cảnh ăn xin tập thể bất ngờ xảy ra trước mắt. Đùng một cái, từ bên kia đường nơi nhà Quốc Hội cũ bấy giờ là Nhà Hát thành phố, hàng trăm người túa ra, quần áo rách rưới, già trẻ, trai gái, mặt mày lem luốc, thân xác gầy mòn, và nhất là thương phế binh còn mang trên mình những bộ đồ lính trận đã bạc phếch, tả tơi, đang lếch đi trên nạn gỗ, hoặc lủng lẳng tay áo vì cánh tay đã cưa tận bả vai, hoặc đã mù lòa đôi mắt trắng đục, hàng loạt những cánh tay đen đuốt, ốm teo, da nhăn nheo, gầy như que củi khô, lắc lắc, đang run rẩy cầm những cái lon sữa bò trống không, móp méo, những chiếc bát bằng đất nung sứt mẻ, lòn vào khe hở giữa thành lan can cửa hàng và hàng lưới kẽm rào để xin ăn. Bỗng một hồi còi tu huýt thổi liên tục làm đám người khốn khổ này thụt tay thật nhanh làm rơi xuống vài cái lon trống không, phát ra những âm thanh như tiếng nhạc buồn. Những người bảo vệ xuất hiện, vai áo mang băng đỏ, mặt hầm hầm, quơ tay chỉ chỏ, miệng thổi còi rồi la hét đuổi xô. Đám người lặng lẻ rút đi qua bên kia đường đứng lơ ngơ, chờ đợi lúc vắng người bảo vệ, cảnh tượng ban nãy tái hiện. Những khách ngồi ăn xì xào, có tiếng của một bộ đội, mang dép râu thốt lên: “tàn dư Mỹ nguỵ”.  Tôi đứng dậy, bỏ ăn nửa chừng, bước vội ra ngoài.

Tôi không về nhà. Tôi đạp chiếc xe đạp cũ mèm trên những con đường vắng, ngang qua những phố phường đã khép kín cửa, chỉ lưa thưa những cửa hàng quốc doanh và hợp tác xã mua bán, thỉnh thoảng mới có vài chiếc xe hơi nhà nước chạy giữa đường, hầu hết người dân đi xe đạp, họa hoằn lắm mới nghe tiếng nổ lịch bịch của xe honda dame. Dưới ánh nắng chói chang của mùa hè Sài Gòn làm tôi toát mồ hôi trán.

Tôi đi như một kẻ mộng du. Đến lúc ngừng xe lại mới nhận ra mình đang đứng trước dãy nhà sàn lụp xụp bên bờ kênh Nhiêu Lộc, dưới chân cầu Ông Lãnh. Tôi cố nhớ số nhà của Đỗ hoặc mường tượng một cái gì quen thuộc từ phía trước căn nhà đó nhưng không sao nhớ nổi. Vừa dắt xe đi tôi vừa gọi to:
“ Đỗ ơi! Mày ở đâu?”. Mọi người chung quanh đều cu rú trong nhà khép kín.

Tôi gọi khàn cả cổ. Một lát sau tôi nhận ra Đỗ, người đàn ông xơ xác trong bộ đồ lính, mắt mang đôi kính đen, tay cầm chiếc gậy, lơ quơ tìm đường, khập khểnh bước tới về phía có tiếng gọi. Tôi mừng quá bước vội về phía đó. Đỗ đưa bàn tay gầy guộc cầm chặt tay tôi, dắt vào nhà.

Nhà lợp tôn, cái nóng ban trưa áp xuống, nền xi măng bóng láng tỏa một chút hơi mát nơi chân trần. Tôi bước đi nhẹ nhàng. Đỗ bỏ chiếc gậy vào một góc tủ, như một người sáng mắt, anh bước đi tránh né những vật dụng ngổn ngang như đã quen đường đi nước bước. Cả tôi và Đỗ bước xuống nhà sau, lát bằng những miếng gỗ lấy từ những thùng chứa đạn, cùng ngồi trên chiếc chiếu đã trải sẵn, hai chân xếp bằng, trước mắt là con lạch, hẹp nhưng dài, lờ đờ nước màu xám xịch chảy qua, thỉnh thoảng vài ngọn gió hiu hiu thổi, mát rượi.

Đỗ hỏi thăm tôi về gia đình con cái bằng giọng Huế nhẹ nhàng, êm ái. Tôi hỏi: “Liên đâu?” - “ Liên đang ngồi bán sách cũ ở vĩa hè Lê Lợi, tối mới về. Ông ở lại với tụi mình. Sẽ có những chuyện làm ông ngạc nhiên.” Tôi gật đầu. Bỗng nhiên Đỗ cất tiếng cười khan rồi hát khẻ bài “Que Sera”. Dứt bản Đỗ nói: “Biết ra sao ngày mai.”

Thời trẻ, ở Huế, tôi với Đỗ và Liên cùng học chung một lớp, một trường. Hết niên học cuối, bạn bè tản mác, Đỗ cùng vài đứa bạn vào quân đội. Tôi vào Sài Gòn làm báo. Mười năm sau, tình cờ hai thằng gặp nhau tại Sài Gòn trong một cuộc biểu tình. Một thằng sáng mắt. Một thằng mù mắt. Một thằng sống an lành trong phố thị. Một thằng dầm sương giải nắng trong rừng núi, cùng tiếng súng đạn, hoả tiển gầm vang. Đỗ mang lon đại úy, đầu đội mũ bê rê màu đỏ, mắt mang kính đen, quần áo xanh lá rằn ri, chân mang đôi giầy trận, dẫn đầu đoàn biểu tình của thương phế binh. Sau đó, Đỗ cho tôi biết chỗ ở của anh. Căn nhà lụp xụp trên kênh Nhiêu Lộc. Tôi đến thăm Đỗ. Bên cốc rượu đế trắng, hai thằng bạn kể chuyện đời.

Tôi ngạc nhiên khi thấy Liên trở về nhà kéo theo mấy người thương binh, có kẻ cụt một chân chống nạn khập khểnh bước, có người lủng lẳng cụt tay trong cánh áo, thêm kẻ ngồi trên xe lăn hai chân đã cưa tận đầu gối, cuối cùng một người đầu nghểnh qua một bên, miệng méo xẹo, mắt không hồn ngơ ngáo nhìn đâu đâu.

Đỗ giới thiệu: “Các đồng đội của tôi bị thương ở trận Xuân Lộc. Tôi đón họ về từ Quân Y Viện.”  Những người thương binh đó gật đầu chào tôi.

Ngồi quanh chiếc bàn gỗ nhỏ, vài cốc rượu đế, vài miếng xoài xanh cắt lát mỏng, nhâm nhi, khề khà, chúng tôi tâm sự với nhau. Chuyện xưa những ngày tươi đẹp. Chuyện nay thê thảm, ê chề. Còn tương lai không ai dám nói. Qua những câu chuyện kể tôi mới biết tường tận về nguyên nhân Đỗ bị mù hai mắt. Trong trận Mậu Thân, Tiểu đoàn của Đỗ tiến vào cố đô Huế, dành lại Thành nội do quân giải phóng chiếm. Trận chiến thật ác liệt. Đại bác từ xa dội về. Bom rơi từ máy bay xuống. Nhà cửa tan hoang. Đại liên đặt ở những lô cốt trên thành quét xuống. Bên thủ thành. Bên tiến công. Có lúc trong đêm tối, xáp lá cà, lưỡi lê đâm tới. Tiếng la thất thanh như tiếng kêu của con lợn bị chọc tiếc. Giọng nói miền Nam, miền Bắc được cất lên từ những người lính hai miền hòa lẫn với nhau. Một tràng tiểu liên quét qua. Đỗ bị ngã. Đỗ như bị chôn sống bởi những xác đồng đội đè chồng chất lên thân thể, nặng như những khối đá làm tê cứng chân tay Đỗ. Anh không cử động được. Chỉ riêng cái đầu của Đỗ còn chừa ra ngoài. Hai mắt Đỗ còn thấy những cảnh đau lòng. Người chết không toàn thây. Máu đổ như suối chảy. Cả mấy ngày, trời nắng rồi trời mưa, Đỗ cùng những thây người nằm tênh hênh chưa có ai đến thu dọn chiến trường. Lúc đầu Đỗ vùng vẫy nhưng không thoát ra khỏi thây người đè, Đỗ chỉ biết nằm chờ, miệng la to kêu cứu. Khàn cả cổ, chẳng ai nghe. Mùi tử khí đã bắt đầu bốc thúi làm Đỗ ngộp thở. Dầm mưa, dãi nắng, và bị chôn dưới lớp xác người chết, Đỗ ngất đi, cơn sốt bắt đầu hành hạ. Đỗ không biết gì nữa. Chỉ mơ hồ nhận ra những cái đau nhứt từ đôi mắt, như có ai cầm kim châm vào mắt mình, sau này Đỗ mới biết là bị lũ chuột cống từ dưới mương lên cắn rúc. Mãi đến khi chiếm được cổ thành, không còn tiếng súng, xe GMC mới đi xúc xác chết, không phân biệt người phía bên kia hay kẻ bên này, tất cả chỉ là xác chết không được toàn thây được đưa về nhà xác của bệnh viện, người ta mới khám phá ra Đỗ còn thoi thóp. Trực thăng đã bốc Đỗ vào Quân Y Viện ở Sài Gòn để chửa trị. Khi Đỗ tỉnh dậy, trước mắt Đỗ chỉ toàn một màu đen tối, tay lên rờ trên đầu quấn chặt chiếc băng, Đỗ biết mình đã mù!

Quay qua người thương binh tên Tấn ngồi bên cạnh, Đỗ nói với tôi: “Tên này trước kia là giáo sư dạy văn tận miền cực nam, bị động viên, cùng một đơn vị mình.” Bấy giờ Tấn mới lên tiếng, giọng miền Nam. Anh kể lại trận đánh cố thủ ở Xuân Lộc vào những ngày tháng 3 năm 1975. Lính tráng hai bên nằm chết la liệt. Thất thủ, rút chạy. Anh bị thương bởi một tràng đại liên. Tỉnh dậy thấy mình nằm trong Quân Y Viện. Anh bỏ lại nơi này một cái chân. Thân nhân chưa có ai biết tin về anh nhưng ngược lại anh biết vợ con anh đã cùng gia đình bên vợ theo đoàn người lên tàu ra khơi rồi, không biết giờ họ sống nơi đâu. Tấn đưa mắt nhìn xuống dòng nước của con kênh, nói nhỏ như đang giảng bài cho các học trò của mình: “Ngày xưa, thuở còn thơ ấu, bạn bè trong xóm chia hai phe chơi trò đánh giặc giả, cầm những bẹ chuối, hoặc cây tre, miệng liên hồi giả tiếng súng kêu Pằng Pằng, thằng thì giả vờ bị trúng đạn, ngả té xuống đất, rồi lồm cồm đứng dậy, nhảy lò cò một chân, thằng ôm bụng như đang bị thương lòi cả ruột lòng thòng. Sau đó, kẻ thắng người thua, lại ôm nhau cười nức nẻ. Trò chơi trẻ con khắc nghiệt đó vấn vào mệnh người, lớn lên sự thật trước mắt là cuộc chiến mà thế hệ chúng ta đã phải gánh chịu. Trong những lần hành quân qua những làng mạc đìu hiu, qua những ruộng đồng xơ xác, qua những núi rừng âm u, dưới làn bom đạn, dưới bóng tối dày đặc bỗng ánh sáng hỏa châu lóe lên và lơ lửng trên không để chúng tôi nhận ra nhau qua cái nón tai bèo hay cái nón sắt, qua đôi dép râu cao su hay đôi giày da, qua  cây súng AK hay M16. Nhưng chúng ta lại hoàn toàn giống nhau trước khi ngả gục họ đều thốt lên cùng một ngôn ngữ hai tiếng: Trời ơi!”

Tôi chưa kịp hỏi nguyên nhân các anh cùng ở chung nhau một mái nhà này thì anh thương binh ngồi trên xe lăn tự giới thiệu: “Tên tôi là Huy, trước làm ruộng, đến tuổi trưởng thành bị lùa vào lính, cùng đơn vị với anh Đỗ. Nếu không có “ông thầy Đỗ”,  tôi không biết sống ra sao với thân tàn ma dại này.” Nói đến đây Huy lại chảy nước mắt. Đỗ cố gắng nói với giọng khôi hài: “Thôi bỏ đi tám”.

Rồi Đỗ kể lại những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, những người ở nhà bên cạnh đã bỏ đi, cảnh náo loạn xôn xao, và sau một đêm ngủ đầy ác mộng, sáng dậy Đỗ hối thúc Liên dẫn anh đến Quân Y Viện. Liên hỏi để làm gì? Đỗ ngậm ngùi nói nhỏ: “Đón mấy bạn thương binh cùng đơn vị ngày xưa của anh, chúng nó đang chơ vơ.” Liên ngạc nhiên hỏi: “Sao anh biết. Quân Y Viện rộng thênh thang, họ nằm ở đâu để mình tìm?” Không đợi Liên hỏi thêm. Đỗ giải thích: “Cứ đi. Những đồng đội đã chết thế mạng anh năm xưa về báo mộng bảo anh phải đến cứu những đồng đội vừa bị thương ở trận chiến cuối cùng.” Liên hiểu tính chồng và nàng dẫn Đỗ đi.

Sau khi nghe đài loan truyền bản tin “Tổng Thống Dương Văn Minh” kêu gọi quân đội miền Nam hãy bỏ súng đầu hàng, cảnh hổn loạn trong Quân Y Viện nhốn nháo cả lên. Bác sĩ, Y tá bỏ việc. Bệnh nhân còn trên mình bộ đồ màu xanh nhạt rộng thùng thình, cuốn gói chạy ra cổng, lơ ngơ không biết về đâu, cũng như những người lính trận vứt bỏ súng ống, quần áo trận, mặc quần đùi, tan hàng rã đám. Những người thương binh đầu quấn băng trắng che kín đôi mắt, còn nằm trên giường bệnh, miệng kêu ú ớ. Những người khác chân còn băng bột cứng đơ treo dây tòn ten trên thành giường cũng ráng sức ngồi dậy, giựt dây, té xuống, lết cái thân tàn như con chó què, tìm nơi trú ẩn. Đỗ đi theo sự dẫn dắt vô hình nào đó đến đúng ngay giường bệnh của các đồng đội mình ngày xưa như Tấn như Huy như Việt. Đỗ như một đại đội trưởng dẫn một tốp lính cụt chân, cụt tay, mắt mù, tai điếc, thủng bụng về chung sống cùng một mái nhà.

Tôi ngạc nhiên hơn nữa khi nghe từ nhà bên cạnh sát vách tiếng đàn guitar cùng giọng hát của ai trầm trầm, khàn khàn, ảo nảo: Em hỏi anh bao giờ trở lại…Mai anh về trên đôi nạn gỗ /Bại tướng về làm gã cụt chân… Liên ngồi bên cạnh tôi, nói nhỏ: “Còn cả một tiểu đội thương binh tạm trú bên đó, họ mới đi kiếm ăn về. Thế nào họ cũng bò sang.”

Người vừa hát không ai khác là Nam. Bây giờ tôi mới biết Nam đã từng là sĩ quan dưới trướng của Đỗ. Nam bị thương sau Đỗ hai năm. Nam bị đạn pháo kích vào quận lỵ, mất một cái tai, cháy nám đen một bên má, sần sùi vết thương như ai dán lên một miếng bánh mì nướng cháy, cùng một bàn chân đã cụt mất, cũng may ngày ấy Nam được gắn  một bàn chân nhựa giả, bước đi khập khểnh.

Tôi quen biết Nam từ thuở nhỏ khi chúng tôi còn ở chung một thị xã. Nam thua tôi vài tuổi, học sau tôi hai lớp, nhưng cùng thi Tú Tài một lượt. Nam học rất giỏi, băng lớp hai lần đều thi đổ. Cả thị xã đều phục tài Nam và Nam có nhiều bạn gái xinh đẹp. Gia đình Nam lại giàu có nhất Tỉnh. Ai có thể ngờ, Nam thành kẻ tàn phế. Người yêu bỏ đi lấy chồng. Sau năm 1975, gia đình Nam cũng tan nát, trong lần cải tạo công thuơng nghiệp, gia đình Nam bị xếp vào lọai Tư sản mại bản. Tài sản bị tịch thu. Cả ba mẹ Nam chết vì sốt rét rừng nơi vùng kinh tế mới. Nam bỏ xứ biệt tích. Té ra Nam mang theo một chiếc xe lăn mà ngày giải ngũ Nam được cấp phát, vào nhập bọn với Đỗ.

Kể từ lần gặp nhau đó, sau này tôi không đến thăm họ, dù tôi đã mang gia đình vào sống tại Sài Gòn. Đời sống quá bon chen. Hằng ngày tôi phải làm việc cực nhọc để kiếm sống. Nhưng đâu có phải tôi không có thời gian rỗi rảnh để đến với họ. Thật ra tôi muốn quên đi. Quên hết. Kể cả những người bạn thương phế binh năm xưa.

*

Mùa này, Sài Gòn thường có những cơn mưa giông, sấm sét vang trời, mưa đổ ào thật lớn, chỉ thấy se lạnh và tự nhiên tôi rùng mình. Tôi như bị một con gió lốc xoáy quăng tôi vào một không gian khác. Bây giờ tôi như đang ngồi ở một góc tại nhà hàng Continental sang trọng bề thế hơn cả thời trước năm 1975, phía trước là nhà hát thành phố đã sửa chửa làm mới lại uy nghi hơn. Và khoảng trống bên cạnh đó là bãi đậu xe, đầy nghẹt những chiếc xe hơi đủ màu đủ kiểu. Những ngôi nhà chung quanh đã xây cất lại nhiều tầng cao ngất. Đường xá bao quanh bằng bê tông láng bóng. Người qua kẻ lại quần áo hợp thời trang hiện đại. Nhưng tôi vẫn thấy xa lạ. Tôi dựa đầu vào thành ghế, mắt đăm đăm nhìn thẳng về phía trước, qua làn mưa rơi, lờ mờ tôi thấy một dáng người đang khập khểnh trên đôi nạn gỗ bước tới về phía tôi, sau lưng kéo thêm một đoàn người, mặc áo lính trận rách tả tơi, đầu để trần, người cụt chân, kẻ cụt tay, lê lết. Tất cả họ đến từ khu nhà dưới chân cầu mà lúc nãy tôi đã dừng lại. Càng đến gần tôi nhận ra Đỗ, Nam, Tấn, Việt, Huy…trong thân xác tiều tuỵ, gầy mòn, tóc đã bạc phơ. Họ nhìn tôi với những cặp mắt vô hồn, xa lạ. Và, họ lom khom, cúi xuống, hai tay cào bới, nạy những khối bê tông lề đường lên làm năm ngón tay chảy máu. Họ như tìm bới một thứ gì họ đã bị mất đi từ thuở thanh xuân. Một bàn chân. Một cánh tay. Một đôi mắt.

Bấy giờ, tôi mơ hồ mới nhận ra hình như tôi cũng bị một viên đạn vô hình nào đó bắn vào tim mình. Tôi cũng bị thương. Thân xác bên ngoài vẫn nguyên vẹn, nhưng tâm hồn tôi đã vở vụn ra từng mảnh.

Từ vết thương, máu không chảy, nhưng nước mắt tôi thì cứ trào ra./.

Nguyên Minh
Sài Gòn, tháng 9 năm 2010





2453. NGUYỄN QUỐC THÁI Thơ từ vực thẳm



NGUYỄN QUỐC THÁI
Thơ từ vực thẳm


Biển quăng quật vào bờ những con sóng phẫn nộ
Bờ bãi quặn đau mùi cá chết
Tự Do cạn kiệt hy vọng với đôi mắt thâm quầng
Đọng chát những giọt lệ dự báo
Cửu Long héo úa mùa nước nổi
Những bông điên điển gầy guộc dật dờ
Tiếng bìm bịp ven sông quẫy đạp khắc khoải vô vọng.

Chúng băm xẻ quê hương
Tám Mươi Đồng một mét vuông tổ quôc
1 Yuan
2 Yuan
Những tiếng trả giá lợm giọng tả tơi đất nước
Những sườn đá đanh mặt vì nhục nhã
Những đập nước trơ tráo như khối u  ác tính.

Thế kỷ Hai Mươi – những năm Bẩy Tư, Bẩy Lăm, Tám Mốt,Tám Chín…
Mặt Biển Đông xanh mướt lấp lánh những oan hồn
Thét gào đau đớn
Hãy trả lại sông núi biển đảo tổ quốc ta
Hãy cứu thoát mơ ước khỏi kìm kẹp
Hãy trả Tự Do về lại Tự Do…
  
Mùa Thu hoen đỏ gục xuống bờ lịch sử nhiễm mặn
Đêm Trung Thu trăng xấu hổ không về
Em gục đầu lên vai anh bật khóc
Ôi dòng sông ngả màu của ta có tiếng thở dài nào xót xa hơn.

Hà Tĩnh tháng 5, Sài Gòn yêu dấu 7.2016
NGUYỄN QUỐC THÁI