Wednesday, March 29, 2017

2796. NGÔ THẾ VINH Trả lời ba câu hỏi của Phùng Nguyễn


NGÔ THẾ VINH
Trả lời ba câu hỏi của Phùng Nguyễn



Phùng Nguyễn sinh năm 1950, mất ngày 17 tháng 11 năm 2015. Bàng hoàng với cái chết đột ngột của Phùng Nguyễn ở cái tuổi đang sung mãn nhất về sinh hoạt trí tuệ và sáng tạo, tôi đã viết bài tưởng niệm "Phùng Nguyễn, Như Chưa Hề Giã Biệt" (1), nay nhớ tới Anh, có dịp đọc lại bài viết, mới nhận ra là còn nợ Anh "Ba Câu Hỏi", mang món nợ ấy cũng đã hai năm, nay là lúc tôi phải trang trải, và cũng là thay cho nén nhang tưởng nhớ Phùng Nguyễn. Ngô Thế Vinh
  
Chân dung Phùng Nguyễn
[photo by Ngô Thế Vinh 05.2015]

1.  Sông Mê Kông, mối tình lớn
Sẽ không xa lắm với sự thật nếu cho rằng ai cũng có một mối tình lớn. Nhà văn Ngô Thế Vinh cũng không ngoại lệ. Người tình của nhà văn đến từ một vùng hẻo lánh của cao nguyên Tây Tạng (Tibetan plateau) với một độ cao hơn 5000 mét tính từ mặt biển.  Bắt đầu bằng những bước dò dẫm từ vùng núi non thuộc tỉnh Thanh Hải, nàng lượn lờ suốt chiều dài tỉnh Vân Nam miền Nam Trung Quốc trước khi lần lượt băng qua biên giới các quốc gia Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cambodia, và cuối cùng Việt Nam, nơi nàng kết thúc cuộc hành trình dài hơn 4800 km và hòa nhập vào Biển Đông ở các cửa Sông Tiền và Sông Hậu. Nàng được gọi bằng nhiều cái tên, Dza Chu, Lan Thương, Mea Nam Khong, Tonglé Thom, Cửu Long… Tuy nhiên nàng được biết đến nhiều nhất dưới cái tên Mekong.
Sông Mekong là nguồn cảm hứng của tiểu thuyết dữ kiện nổi tiếng “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng” và ký sự “Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch” cũng như hàng chục bài biên khảo, nghiên cứu giá trị về những biến đổi của hệ sinh thái của Sông Mekong trong những thập niên vừa qua của nhà văn Ngô Thế Vinh. Nguồn cảm hứng này đã, qua năm tháng, biến nhà văn Ngô Thế Vinh thành một chuyên gia về dòng sông quan trọng bậc nhất của vùng Đông Nam Á.
Bởi vì giá trị kinh tế cũng như những nội hàm nghiêm trọng của những biến đổi hệ sinh thái của dòng Sông Mekong dọc con đường ra biển lớn, quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia lên hệ trở nên rối rắm hơn, đặc biệt khi những con đập thủy điện lớn nhỏ được dựng lên ở thượng nguồn lẫn hạ lưu Sông Mekong. Việt Nam gặp nhiều khó khăn về các mặt kinh tế và ngoại giao hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng khi phải đối phó với những vấn đề nhức đầu liên quan đến những thay đổi bất lợi của hệ sinh thái Sông Mekong và trong cùng lúc, âm mưu bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông.
Thưa nhà văn Ngô Thế Vinh, điều gì ở dòng Mekong đã làm anh say đắm? Ở vị trí của một người am hiểu tình hình, anh có thể chia sẻ với người đọc viễn kiến của anh về những thay đổi hệ sinh thái của sông Mekong và hậu quả của chúng trong một tương lai có thể nhìn thấy được? 

Đọc tiếp...

ĐÃ PHÁT HÀNH THƯ QUÁN BẢN THẢO 74 THÁNG 4.2017





ĐÃ PHÁT HÀNH

THƯ QUÁN BẢN THẢO 74
Tháng 4.2017

Chủ đề:
BÁO SINH VIÊN 
& NGUYỆT SAN TÌNH THƯƠNG


SỐNG VÀ VIẾT:
Trần Hoài Thư   Phạm Văn Nhàn   Phan Ni Tấn   Huyền Chiêu

PHẦN CHỦ ĐỀ:
Đỗ Hữu Tước   Ngô Thế Vinh   Trang Châu   Bùi Khiết
Vũ Thiện Đạm   Trần Xuân Ninh   Đỗ Hồng Ngọc   Đỗ Nghê
Nguyễn Vy Khanh   Trần Hoài Thư   Trần Xuân Dũng   Phạm Đình Vy

THƠ VĂN TRÍCH TỪ 
NGUYỆT SAN TÌNH THƯƠNG:
Nàng Lai   Phạm Ngọc Lân   Trang Châu   Bùi Thế
Phan Huy Mộng   Lân   Chu Tân   Trần Huyền Thoại
Trần Văn Bảng   Yên Thảo   Phương Tuấn   Marie Noel – Hoàng Vũ
Hoàng Thị Thủy Tiên   Hoàng Đình Huy Quan   Nguyễn Phương Loan

TRANG BẰNG HỮU:
Nguyễn Thị Hải Hà   Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Phạm Văn Nhàn   Đào Anh Dũng   Nguyễn Âu Hồng
Đức Phổ   Vô Biên   Nguyễn Thị Liên Tâm Tô Thẩm Huy
Lê Văn Trung   Từ Hoài Tấn   Cái Trọng Ty   Lê Ký Thương

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI:
Trần Hoài Thư giới thiệu bộ sách
VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975
của Nguyễn Vy Khanh

Muốn có TQBT 74, vui lòng liên lạc
với nhà văn Trần Hoài Thư

Tòa soạn:
719 Coolidge Street
Plainfield, NJ 07062

Email:
tranhoaithu16@gmail.com






2795. ALBERTO MORAVIA Truyện ngắn ĐỨA BÉ - Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu


Alberto Moravia (1907-1990)



LỜI NGƯỜI DỊCH :

Alberto Moravia ( 1907-1990 ), nhà văn Ý. Căn bệnh lao xương mắc phải từ lúc mới lên 9  khiến Ông không thể tiếp tục đến trường học và chỉ trau dồi kiến thức bằng con đường tự học. Ông còn học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức, làm thơ bằng các ngôn ngữ này. Mười chín tuổi, Ông bắt đầu viết tiểu thuyết và ba năm sau,  tự bỏ tiền để xuất bản và nổi tiếng ngay với  tác phẩm  đầu  tay   này ( Những kẻ thờ ơ – Les Indifférents ). Những tiểu thuyết tiếp theo cũng được người đọc tán thưởng, trong số đó có cuốn đã được các đạo diễn lừng danh ( Vittorio De Sica, Jean-Luc Godard, Francesco Maselli ) chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh với các minh tinh tài tử hàng đầu : Gina Lollobrigida, Sophia Loren, Jean-Paul Belmondo, Brigitte Bardot . Alberto Moravia cũng thành công với các truyện ngắn, theo Ông, nghệ thuật của truyện ngắn “ tinh khiết hơn, cơ bản hơn, trữ tình hơn, cô đọng hơn và tuyệt đối hơn, so với tiểu thuyết”.
  

Khi người phụ nữ ở Sở Cứu tế Thành phố Rome mang tiền cứu trợ đến cho chúng tôi, cả bà nữa cũng hỏi tại sao chúng tôi lại đẻ nhiều đến thế, và vợ tôi, hôm đó đang cáu gắt, nói huỵch toẹt : “ Nếu chúng tôi có tiền, tối tối chúng tôi sẽ đi xem phim…vì không có nên chúng tôi chỉ việc đi ngủ và cứ thế những đứa con ra đời.” Nghe vậy bà ta tỏ vẻ bất bình và bỏ đi không nói một lời.  Tôi trách vợ tôi bởi sự thật không phải bao giờ cũng nên nói ra, và cũng phải biết mình đang nói với ai nữa chứ.

Hồi còn trẻ, chưa lập gia đình, tôi thường giải trí bằng cách đọc tin tức trong báo chí Rome, thường đầy rẫy chuyện kể về những bất hạnh  xảy đến cho nhiều người: trộm cắp, giết người, tự tử, tai nạn giao thông, vân vân. Trong số những chuyện đó, duy nhất môt điều tôi nghĩ là sẽ không xảy đến cho mình, đấy là trở thành cái mà báo chí gọi là “một trường hợp thương tâm”, tức là hoàn cảnh một người gợi lên lòng thương hại không vì một sự bất hạnh nào đặc biệt, mà chỉ vì lý do là đang hiện hữu. Như  vừa nói, tôi còn trẻ, và tôi không hình dung ra việc nuôi nấng một gia đình đông đúc ra làm sao cả. Nhưng giờ này đây, tôi kinh hoàng nhận ra rằng dần dần mình đang trở thành một trong những “ trường hợp thương tâm” đó. Dạo đó, tôi đọc thấy, chẳng hạn : “ Họ sống trong cùng cực đói khổ…” Vậy mà, bây giờ đây, tôi cũng đang sống trong cùng cực đói khổ. Hoặc là : “ Họ ở trong cái nhà thực ra chỉ có tên gọi là nhà.”  Và, bây giờ tôi đang sống ở Tormarancio, cùng vợ và sáu đứa con, trong một căn phòng chỉ bằng diện tích một tấm nệm, và, mỗi khi trời mưa, nước đổ xuống như trên bến sông Ripetto.Tôi còn đọc thấy :  “Khi người phụ nữ khốn khổ biết mình đã có thai, bà ta đã quyết định một việc tội lỗi là hủy diệt kết quả của tình yêu của mình.” Vậy mà cái quyết định đó, vợ chồng tôi cũng đồng lòng khi khám phá ra rằng vợ tôi đang mang thai đứa con thứ bảy. Tóm lại, vợ chồng tôi quyết định là, ngay khi thời tiết thuận lợi, chúng tôi sẽ mang bỏ đứa bé trong một nhà thờ, trông chờ lòng từ thiện của người nào đầu tiên bắt gặp nó.

Cũng nhờ sự giúp đỡ của những phụ nữ tốt bụng ở Sở Cứu tế, vợ tôi đi sinh ở bệnh viện, và ngay khi mới khỏe trở lại, bà mang con về Tormarancio. Vừa mới tới căn phòng của chúng tôi, bà nói ngay: “Tuy bệnh viện vẫn chỉ là bệnh viện, tui vẫn thích ở lại đó hơn là về lại chỗ này.” Sau câu nói đó, đứa bé chừng như nghe hiểu khóc ré lên nhức nhối đến thủng màng nhĩ. Thằng nhóc sáng sủa, khỏe mạnh và tốt giọng đến nỗi đêm đêm thức giấc khóc thét lên là không ai ngủ được.

Đến tháng năm, thời tiết bắt đầu ấm, có thể ra ngoài không cần áo khoác, chúng tôi rời Tormarancio để đi Rome. Vợ tôi ôm chặt đứa bé vào lòng, quấn đầy quần áo nhàu nát như thể sẽ đem bỏ nó giữa cánh đồng tuyết; khi ra đến thành phố, để khỏi để lộ sự đau lòng, bà nói luôn miệng, hổn hển, đứt hơi, tóc bay rối, mắt trợn ngược. Khi thì bà nói đến những ngôi nhà thờ, nơi chúng tôi có thể đến bỏ đứa bé, giải thích rằng đấy phải là nhà thờ nào mà những người giàu có thường hay lui tới, bởi nếu những người nghèo nhặt đứa bé thì thà cứ giữ nó còn hơn; khi thì bà bảo tôi phải tìm được nhà thờ cống hiến cho nữ thánh Madone, bởi Thánh Madone cũng có đứa con trai và như thế có thể thông cảm mọi chuyện mà chấp thuận ý nguyện của bà. Sự liến thoắng này khiến tôi mỏi mệt và bị kích động, hơn nữa tôi cũng chẳng hãnh diện gì, chẳng thích việc mình đang làm; nhưng tôi cứ tự nhủ là phải giữ cái đầu lạnh, phải tỏ ra bình tĩnh và giúp vợ can đảm.

Tôi đưa ra vài ý kiến bác bẻ, chủ yếu là để ngắt bớt những lời lẽ huyên thiên kia: “ Tui có ý này… hay là mình đem bỏ nó ở nhà thờ Thánh Pierre?” Bà hơi do dự một lát rồi nói: “Cái nhà thờ đó như là một trụ sở quân sự… có thể chẳng ai trông thấy nó… không, tui phải thử đến nhà thờ nhỏ ở đường Condotti, chỗ đó có nhiều cửa tiệm đẹp đẽ…nhiều người giàu có thường đến đó… đấy mới là địa điểm tốt…”

Chúng tôi lên xe buýt và, ngồi giữa đám hành khách, vợ tôi lặng thinh. Thỉnh thoảng bà lại quấn đứa bé trong chăn chặt hơn, hoặc cẩn thận hé mặt nó ra nhìn. Thằng bé đang ngủ, khuôn mặt trắng hồng vùi trong đám tã lót. Quần áo nó cũng tồi tàn như chúng tôi vậy, chỉ có vẻ tươm tất với đôi găng tay màu xanh nhạt, hai bàn tay xinh xắn thò ra ngoài như thể muốn khoe. Chúng tôi xuống xe ở đại lộ Goldoni, vợ tôi lại tiếp tục dài dòng nhiều chuyện. Bà dừng chân trước một tiệm kim hoàn và chỉ tôi xem những món nữ trang bày trong tủ, trên tấm nhung đỏ và nói : “Ông nhìn mấy món  đẹp quá đây này…người ta đến khu này chỉ để mua nữ trang và các thứ đẹp đẽ… người nghèo như chúng ta không ai mạo hiểm tới đây…, họ thì giữa cửa tiệm này và cửa tiệm khác lại đi vào nhà thờ cầu nguyện một lát…họ đầy thiện tâm…có người sẽ nhìn thấy đứa bé và ẵm nó đi.” Bà nói như thế trong khi vẫn ngắm nghía mấy món nữ trang, ôm đứa bé vào lòng, mày nhíu lại, như thể đang nói với chính mình, còn tôi không dám nói gì ngược lại. Chúng tôi vào bên trong nhà thờ: nó nhỏ xíu, tường lát đá hoa giả màu vàng, ngoài bàn thờ lớn còn có nhiều nhà nguyện. Vợ tôi tuyên bố ngay là hình ảnh bà nhớ về nó khác hẳn, giờ nhìn lại bà chẳng hài lòng chút nào. Tuy thế bà cũng nhúng tay vào nước phép và làm dấu thánh giá. Sau đó, tay ôm con, vợ tôi chậm rãi đi vòng quanh nhà thờ, săm soi với vẻ bất bình và nghi ngờ. Từ vòm nóc, xuyên qua những lớp kính màu, một luồng ánh sáng lạnh lẽo mà sống động đổ xuống; vợ tôi đi từ nhà nguyện này đến nhà nguyện khác, kiểm tra mọi thứ, ghế ngồi, bàn thờ, tranh ảnh, xem thử có thể bỏ đứa bé lại không; còn tôi thì nhìn theo bà từ xa và không hề rời mắt khỏi cánh cửa ra vào. Chúng tôi nhìn thấy có một cô gái cao lớn  đi vào, cô ăn mặc toàn màu đỏ, tóc vàng óng. Lúng túng trong chiếc áo chật bó, cô quỳ xuống và sau vài giây cầu nguyện, cô làm dấu và bỏ đi ra, không thèm nhìn chúng tôi.Vợ tôi theo dõi cảnh này và nói ngay: “Không, không thể được… những người vào đây cũng như cô gái hồi nãy thôi, cứ vội vàng để bỏ đi vui vẻ, rong chơi nơi mấy cửa tiệm…, chúng ta đi thôi.” Miệng nói, chân bà bước ra khỏi nhà thờ ngay.

Chúng tôi đi ngược một đoạn khu Corso, chân rảo bước, vợ tôi đi trước, tôi theo sau, và gần đến quảng trường Venise, chúng tôi đi vào một nhà thờ khác. Nó lớn hơn nhà thờ kia nhiều, một phần chìm trong bóng râm, đầy màn trướng, đồ mạ vàng và hòm thánh tích đựng những quả tim bằng bạc lấp lánh trong bóng tối. Có rất đông người và chỉ nhìn thoáng qua tôi nhận thấy rằng những người này thuộc tầng lớp khá giả, phụ nữ đội nón, đàn ông ăn mặc chỉnh tề. Một vị linh mục đang giảng đạo, hai tay vung lên trên bục giảng; mọi người đứng chăm chú nhìn ông và tôi cho rằng điều này rất tốt vì không ai để ý đến chúng tôi… “ Mình thử bỏ đứa bé lại đây ?” tôi nói nhỏ vào tai vợ; bà ra dấu đồng ý. Chúng tôi tiến tới nhà nguyện bên cạnh, chỗ tối; không có ai cả và có thể nói là không thấy gì ở đây.  Vợ tôi kéo một góc chăn bọc đứa bé che kín mặt nó lại và đặt nó trên một chiếc ghế làm như đặt một gói đồ cồng kềnh cho rảnh tay. Rồi bà quỳ xuống và cầu nguyện khá lâu, tay ôm lấy mặt, trong khi đó, chẳng biết làm gì, tôi đưa mắt nhìn hàng trăm quả tim bạc lớn nhỏ đủ cỡ đính trên tường. Cuối cùng, vợ tôi đứng dậy, vẻ căng thẳng, làm dấu và từ từ rời khỏi nhà nguyện, tôi theo sau cách một quãng. Ngay lúc này vị linh mục la lớn : “ Và Chúa Giê-su nói: Pierre, con đi đâu? ” tôi rùng mình, có cảm giác như ông đang nói với tôi. Nhưng khi vợ tôi sắp vén bức màn cửa thì một giọng nói làm cả hai chúng tôi giật mình: “ Này bà, bà bỏ quên gói gì trên ghế kìa.” Đấy là một phụ nữ ăn mặc toàn đen, một trong những người sùng đạo suốt cả ngày chỉ việc tới lui nơi nhà thờ và kho đồ lễ. “ À! Đúng rồi, cám ơn… tôi quên mất.” vợ tôi nói. Thế là chúng tôi đến lấy lại của nợ và ra khỏi điện thờ, sống dở chết dở.

Ra ngoài, bằng cái giọng của một người bán hàng muốn bán đổ bán tháo món hàng của mình mà không có ai mua, vợ tôi nói: “ Không ai muốn nó cả, thằng bé tội nghiệp của tôi!” Nhưng rồi bà cũng bắt đầu chạy lon ton, những bước chân giật giật như không hề chạm đất.

Chúng tôi đổ ra quảng trường Saints- Apôtres; nhà thờ mở cửa và khi bước vào, thấy nó to lớn, rộng và tối, vợ tôi khẽ nói: “ Chỗ này tốt đây.” Bước chân dứt khoát, bà đi vào nhà nguyện phía bên, đặt đứa bé trên ghế băng và, chừng như mặt đất nóng đến bỏng chân, bà không làm dấu, không cầu nguyện, cũng không hôn lên trán đứa bé mà vội vàng tiến ra phía cửa. Nhưng bà chỉ mới chạy được vài bước thì cả nhà thờ vang dội những tiếng khóc tuyệt vọng: lúc này đúng là giờ đứa bé đòi bú, nó đói. Nghe tiếng ré chát chúa đó, vợ tôi đâm ra luống cuống: mới đầu bà chạy ra cửa, rồi chạy trở lui, và không hề suy nghĩ mình đang ở đâu, bà ngồi xuống ghế, ôm con vào lòng và mở cúc áo cho nó bú. Bà chỉ mới vạch ngực ra là thằng bé đưa tay bám riết vào, ngấu nghiến như sói con, nó mới đỡ thèm thì một giọng nói giận dữ thét lên: “ Những chuyện đó không được làm trong nhà của Chúa… đi ra… đi ra ngay… ra ngoài đường mà làm !” Đó là ông giữ nhà thờ, một lão thấp bé, râu bạc, có giọng nói to hơn người. Vợ tôi đứng dậy, vội vàng che ngực áo và đầu đứa bé rồi nói với ông lão: “ Vậy mà trong tranh lúc nào cũng thấy bà Madone cho con bú.” “ Chị muốn so sánh mình với bà Madone à, đồ tự phụ.” Quá chán, chúng tôi bước ra khỏi nhà thờ, đến ngồi trong vườn chỗ quảng trường Venise; vợ tôi tiếp tục cho con bú cho đến khi thằng bé no nê ngủ lại.

Giờ này, màn đêm đã xuống, các nhà thờ đều đóng cửa, chúng tôi mỏi mệt, đờ đẫn, đầu óc không nảy ra ý tưởng nào. Nghĩ là mình đã nhọc lòng để làm một việc mà lẽ ra không nên làm, tôi cảm thấy tuyệt vọng. Tôi bảo vợ: “ Bà nghe đây, muộn rồi, tui không chịu được nữa… phải quyết định đi chứ.” Vợ tôi trả lời chua chát: “ Nhưng nó là giọt máu của ông!... ông muốn rứt bỏ nó như thế, trong xó xỉnh, như người ta vứt bỏ gói giấy đựng bộ lòng con mèo!” – “ Không, không phải thế, nhưng có những việc ta có thể làm ngay không đắn đo hoặc là không làm được nữa” “ Sự thực là ông sợ tui đổi ý mà mang nó về nhà lại… đàn ông các ông toàn là một lũ hèn!” Tôi nghĩ giờ không phải lúc nói trái ý bà nên thong thả trả lời: “ Tui hiểu bà, nhưng bà phải biết rằng dù mọi việc xoay chuyển theo chiều hướng xấu cho nó thì tốt hơn vẫn là cho nó lớn lên ở Tormarancio, trong căn phòng không cầu tiêu, không bếp núc, giữa đám vi trùng mùa đông và bầy ruồi nhặng mùa hè.” Lần này thì bà không trả lời.

Chẳng ý thức mình đang đi đâu, chúng tôi theo đường quốc lộ ngược về hướng Tháp Néron. Xuống dưới một chút, tôi để ý thấy một con đường dốc, hoàn toàn vắng vẻ, chỉ có một chiếc xe hơi màu xám, cửa đóng, đỗ trước cổng nhà. Tôi chợt có một ý, đến gần chiếc xe, thử mở tay nắm, cửa xe bật ra. Tôi nói với vợ: “ Mau lên, thời cơ đây rồi… bỏ thằng nhỏ ở băng ghế sau.” Bà nghe lời, mang đặt đứa bé lên ghế và đóng cửa lại. Mọi chuyện xảy ra trong vài giây, không ai nhìn thấy chúng tôi. Tôi nắm cánh tay vợ, chạy tránh xa về phía quảng trường Quirinal.

Quảng trường vắng vẻ, tối om, lác đác vài ngọn đèn rọi xuống các cung điện, vượt lên trên các lan can, ánh sáng thành phố Rome lấp lánh trong đêm. Vợ tôi đến gần bể nước, dưới chân tháp, ngồi xuống ghế và bật khóc, quay lưng về phía tôi như thể đang ngồi một mình. “ Bà làm sao vậy? ” tôi hỏi. “ Bây giờ đã bỏ con rồi, tui thấy nhớ nó… tui thấy thiêu thiếu cái gì ở đây, ở chỗ ngực, chỗ nó hay bám víu vào.” Tôi nói không chủ định: “ Dễ hiểu thôi mà… nhưng rồi mọi việc sẽ qua.” Bà nhún vai và tiếp tục khóc. Rồi đột ngột nước mắt bà ráo hoảnh, như làn gió làm tạnh cơn mưa. Bà đứng dậy, giận dữ, chỉ tôi thấy một trong những cung điện và nói:   “Bây giờ tui biết mình sẽ đi đâu rồi,  tui đi gặp ông vua và sẽ kể hết mọi chuyện.” – “ Bình tĩnh đi, tôi đưa tay giữ bà lại và nói lớn… bà điên rồi, bà biết thời này còn vua chúa nào nữa đâu !” – “ Tui không cần, tui sẽ nói chuyện với người nào thay thế vua… phải có ai đó chứ.” Bà sắp chạy về phía cổng vào, có Trời mới biết bà sẽ gây ra chuyện tai tiếng gì nữa nếu tôi không đột ngột lên tiếng ngoài cả dự định: “ Bà nghe tui đây, tui nghĩ lại rồi… mình trở lại xe và lấy lại đứa nhỏ… bà còn muốn gì nữa, ta sẽ giữ nó… thôi thì, thêm một đứa hay bớt một đứa…” Ý kiến này, hẳn cũng là điều bà đang nghĩ, xóa tan đi cái ý đi nói chuyện với ông vua. “ Nhưng liệu nó còn đó không?” bà vừa nói vừa chạy nhanh đến con đường nơi chiếc xe màu xám đang đỗ.  “Chắc chắn là còn, tôi trả lời, mới năm phút thôi chứ mấy…”

Quả thật chiếc xe vẫn còn ở đó. Nhưng, đúng lúc vợ tôi sắp mở cửa xe thì một người đàn ông trung niên, béo lùn, vẻ mặt hách dịch, xuất hiện trước cổng và la lớn: “ Dừng lại… dừng lại… bà định lấy gì trong xe tôi đó?” Vợ tôi nhoài người vào trong để  ẵm lấy đứa bé trên ghế, trả lời mà không quay lại : –  “Tui muốn lấy cái gì thuộc về tui.” Người đàn ông vẫn khăng khăng :  “Mà bà lấy cái gì?... xe này của tôi… bà hiểu chưa, nó là của tôi…” Phải nhìn thấy vợ tôi lúc đó. Bà đứng thẳng lên và tấn công kiểu thế này : “ Không, ai thèm lấy gì của ông ?... Đừng sợ, không ai lấy gì của ông hết… còn chiếc xe, coi này, tui nhổ vào nó đấy, biết chưa?...” Và thực sự bà nhổ ngay vào cửa xe. Ông kia ngơ ngác hỏi: “ Nhưng mà này, cái gói gì kia ? ” “ Không phải cái gói, mà là con trai tui, nhìn đây này…”

Bà để lộ khuôn mặt đứa bé chìa ra cho ông kia xem và nói tiếp : “ Một thằng con trai xinh xắn thế này, bộ ông tưởng có thể tạo ra được một đứa như thế với vợ ông à… và đừng tìm cách đụng vào tui, nếu không tui sẽ la lên, gọi lính gác và báo là ông muốn bắt cóc con trai tui…” Tóm lại là vợ tôi cứ nói, nói mãi, đến nỗi người đàn ông tội nghiệp kia, mặt đỏ bừng, mồm há hốc, chừng như sắp bị sung huyết.

Cuối cùng, vợ tôi thong thả bỏ đi, tay ôm con, trở lại chỗ tôi đứng ở cuối đường.
  
THÂN TRỌNG SƠN
( Dịch từ bản tiếng Pháp – Le bébé – Claude PONCET )


Tuesday, March 28, 2017

2794. Tranh ĐINH TRƯỜNG CHINH Belle


t r a n h
đinh trường chinh


BELLE
sơn dầu trên bố - đinh trường chinh 
(Cảm hứng từ Beauty and The Beast - Tặng Thơ & Tranh)

SOCCER SCHEDULE: Satuday, April 1, 2017




Eastern Standard Time


Satuday, April 1, 2017

Bundesliga
9:30 AM
Bayern Munich v Augsburg
FSplus
9:30 AM
Schalke 04 v B Dortmund
FS2
9:30 AM
RB Leipzig v Darmstadt 98
Foxdeportes
12:30 PM
E Frankfurt v B Mgladbach
FS2
Championship
10:00 AM
Brentford v Bristol City
beINSports
EPL
7:30 AM
Liverpool v Everton
NBCSN
10:00 AM
Burnley v Spurs
NBCsportslive
10:00 AM
Chelsea v Crystal Palace
NBCsportslive
10:00 AM
Hull City v West Ham Utd
NBCsportslive
10:00 AM
Leicester City v Stoke City
NBCsportslive
10:00 AM
Man Utd v WBA
NBCsportslive
10:00 AM
Watford v Sunderland
NBCsportslive
12:30 PM
Southampton v Bournemouth
NBCsportslive
France
3:00 PM
Monaco v PSG
beINSports
La Liga
10:15 AM
Osasuna v Ath. Bilbao
beINesp
12:30 PM
R Sociedad v Leganes
beINesp
2:45 PM
Malaga v Atl. Madrid
beINesp
Mexico
7:00 PM
Chiapas v Pumas
ESPNdep
9:00 PM
Tigres v Leon
Univisiondep
11:00 PM
America v Monterrey
Univision
MLS
2:00 PM
NYCFC v San Jose
YES
NASL
7:00 PM
NY Cosmos v Miami FC
beINSports
Serie A
12:00 PM
Sassuolo v Lazio
beINSports
2:45 PM
Roma v Empoli
RAI

Monday, March 27, 2017

2793. Nguyễn Minh Nữu: Thương quá Sài Gòn ngày trở lại (11)


Nguyễn Minh Nữu
Thương quá Sài Gòn ngày trở lại (11)



Năm 1978, Thương xá Tax sau hai năm đóng cửa làm nhà kho, đã mở cửa lại với tên mới là "Cửa Hàng Phục Vụ Thiếu Nhi". Đó cũng là năm đầu tiên mở lại chợ Tết ở Saigon sau 1975.

Phía đường Lê Lợi, được phân chia thành từng ô nhỏ ven đường, cho phép người dân ghi danh mở các gian hàng bán tết.  Tôi xin ghi danh và được cho một diện tích khoảng 3 mét vuông nằm ngay đầu ngã tư Nguyễn Huệ - Lê Lợi. Địa điểm thật đẹp và thuận lợi. Mặt hàng tôi xin bán là kem do một người quen có máy làm kem hứa cho tôi mượn máy này trong một tháng để kinh doanh. Lúc đó tôi vừa lập gia đình và chuẩn bị có con đầu lòng, thật vui vì tin rằng Thương xá Tax cũ đã hoạt động lại và mùa xuân đang đến sẽ tạo ra một vận hội mới thoát nghèo.

Thương xá Tax có một lịch sử xây dựng từ gần trăm năm trước. Khởi công năm 1922, rồi khánh thành năm 1924 mang tên Grands Magasins Charner (GMC) là trung tâm thương mại lớn nhất và đẹp nhất suốt thời bấy giờ. Tòa nhà ban đầu chỉ có 3 tầng lối vào là góc Nguyễn Huệ - Lê Lợi ngày nay, nền nhà ngay lối vào có trang trí hoa văn bằng gạch Mosaic. Năm 1934, biển hiệu GMC được gắn thêm ở khu vực mái vòm đồng hồ. Năm 1942, tòa nhà được xây dựng thêm tầng 4, mái vòm bị tháo dỡ. Đầu những năm 1960, tên GMC được đổi thành Thương xá Tax.

Có một bài viết của tác giả Trần thị Vĩnh Tường ghi nhận một nét đặc sắc của tòa nhà là lớp gạch men mầu lam lót trên cầu thang nối sảnh chính của tòa nhà đi lên lầu một như một dòng sông lam chảy miên man như một biểu tượng quý giá.  Gạch đó xuất phát từ quốc gia Morocco ở châu Âu, có nguồn gốc thật thi vị như sau:

"Kinh thành Fez (hay Fes) nằm trên triền dốc thung lũng, nơi cung cấp nguyên liệu làm gốm. Vùng Bin Jelleih, 12km phía bắc Fez, chứa loại đất sét rất lạ: lớp đất sét bên trên vẫn giữ nguyên màu vàng nâu sau khi nung, nhưng lớp bên dưới phơi nắng rồi nung thì đất sét biến thành màu trắng thích hợp cho gốm trắng - men - lam Fakhari nổi tiếng thế giới trong nhiều thế kỷ, người Pháp gọi là “Bleu de Fez”, giống “Bleu de Huế” triều Nguyễn. Thế kỷ 14, Fez có 124 xưởng gốm.

Ở thung lũng Mellih (Morocco), sông cuốn những tảng đá từ trên cao xuống hẻm núi hẹp. Đá mài thành bột mịn cho màu xanh lam tuyệt đẹp. Cầu thang Tax tráng men xanh lam vừa hợp ý người Pháp hàm ý Sài Gòn là một cảng sông vừa đúng với niềm tin trong Hồi giáo (Islam): màu xanh là màu trời và màu nước. "

Tôi đã nhiều lần đi lên đi xuống cái cầu thang hình bán nguyệt này, đôi khi đứng lại, đưa tay xoa đầu chú gà trống bằng đồng dựng hai bên tay cầm cầu thang. Đi lên đi xuống, ngồi nghỉ ngơi  nơi đây không phải vì thương tưởng di tích trăm năm này, mà đơn giản chỉ là người giao hàng mỹ nghệ cho Cửa Hàng Thiếu Nhi, ngồi nghỉ mệt sau khi đi lại lên xuống giữa trưa hè nóng bức mà thôi.

Cụ Vương Hồng Sển, một người đã viết về Saigon đầu tiên, đã ghi nhận một giai thoại văn học rất đẹp về cái ngã tư Nguyễn Huệ -Lê Lợi này. Cụ Sển kể là ngày xưa  thời mới đầu bị Pháp thuộc, ngã tư này có một bồn hoa  người ta gọi là Ngã Tư Bồn Kèn. Nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt là người Rạch Giá, thi đỗ Cử Nhân  và làm quan dưới triều Tự Đức, làm tới Tuần Phủ thì xin hưu trí về quê vì không muốn ở làm giúp Pháp. Một buổi chiều kia, ông lên Saigon chơi, đội cái nón Ngựa là thứ nón lá nhưng kết bằng lông chim, dùng khi cưỡi ngựa, Ông đi  và tới Bồn Kèn nghe lính Lang Sa thổi kèn, Bất ngờ ngay lúc đó, gặp một người bạn, cũng làm thơ, cũng làm quan , đang là một trọng thần của Pháp đi xe song mã vừa đi tới là Tôn Thọ Tường. Ông không muốn gặp nên lật đật núp vào gốc cây để né, Nhưng Tôn Thọ Tường nhanh mắt nhìn thấy, nhảy xuống xe vồn vã chào hỏi. Hai người ứng khẩu  hai bài thơ như vầy: Huỳnh Mẫn Đạt xướng:

Cừu mã năm nao đáo cặp kè
Duyên sao, giải cấu khéo đè ne
Đã cam bít mặt cùng trời đất
Đâu dám ngiêng mày với ngựa xe
Hớn hở trẻ dung đường dặm liễu
Lơ thơ già núp cội cây hòe
Sự đời thấy vậy thời hay vậy
Thà ẩn non cao chẳng biết nghe.
Tôn Thọ Tường hiểu ý của ông, nên họa lại:
Tình cờ xẩy gặp bạn đồng liêu
Thơ phú ngâm nga hứng gió chiều
Thế cuộc đổi dời càng lắm lắm
Thiên cơ mầu nhiệm hãy nhiều nhiều
Nước non dường ấy tình dường ấy
Xe ngựa bao nhiêu bụi bấy nhiêu
Hăm hở nhạc tây hơi thổi mạnh
Nghe qua ngùi nhớ giọng tiêu thiều.

Mới đây, ngày 12.10.2016, Thương xá Tax đã chính thức đập bỏ để xây dựng một công trình khác to lớn hơn. Theo thông báo của người xây dựng thì một số hình ảnh quen thuộc với người dân ở thành phố bấy lâu nay ở tầng trệt và bên trong là đại sảnh chính sẽ được làm lại như cũ, với mái hiên che bên ngoài, với cầu thang uốn cong bên trong, với lớp gạch men mầu xanh lam lót đường, với con gà trống bằng đồng... Tất nhiên, với sự chuyển biến của đời sống, cái gì rồi cũng tàn phai đi, nhưng cái còn giữ trong lòng người chính là nỗi hoài niệm một thời quá vãng.

Từ một người không liên quan gì tới Mỹ Nghệ, tôi bắt đầu bước vào và sống suốt hai mươi năm bằng nghề mỹ nghệ khởi đầu từ Thương Xá Tax này.

Còn một tháng nữa thì đến tết Ất Mùi, tôi hớn hở ra địa điểm bắt thăm được để nhận chỗ, thì cũng là lúc nhận được tin người bạn hứa cho mượn máy làm kem cho biết máy bán rồi.  Máy làm kem không có thì địa điểm này .... bán cái gì? Tôi ngẩn ngơ nhìn vị trí được giao mà lòng hoang mang quá sức. Bất ngờ, ngay lúc đó, từ trong Cửa hàng Thiếu Nhi bước ra là ông thầy dậy tôi Triết học năm đệ nhất ở Đà Lạt. Ông vừa là thầy dậy Triết, vừa là một nhà văn, và lại là bạn của ông anh ruột của tôi. Tôi chào mừng, “Anh Tuyến...”

Nhà văn Nguyễn Quang Tuyến nhìn tôi ngạc nhiên: “Em làm gì ở đây?”

Tôi kể lại tình trạng của mình, anh Tuyến reo lên, “Vậy thì tốt.” - Trời, sao lại tốt?

Nguyễn Quang Tuyến dạy học ở trường Trung Học Văn Học Đà Lạt, sau 1975, nghề giáo không nuôi nổi gia đình, ông bươn chải vào rừng sâu làm nghề đốt than đem về bán, rồi cũng không ổn định, ông vào làm cho Hợp Tác Xã hàng Thủ Công Mỹ Nghệ Đà Lạt, và đang là phó chủ nhiệm kinh doanh. Mỗi tháng vài lần, ông đem hàng của Hợp Tác Xã về ký gửi cho cửa hàng Thiếu Nhi Thành Phố.

- Bây giờ thế này, hàng anh đem về là các mặt hàng mỹ nghệ gỗ như hộp bút, hộp trang điểm, tranh gỗ rất phù hợp với nhu cầu dân chúng mùa tết tặng quà nhau. Thay vì giao hết cho cửa hàng Thiếu Nhi, anh sẽ giao cho em một nửa, bằng giá với cửa hàng, em cũng bán ra bằng giá với trong cửa hàng, lại thêm gói giấy hoa làm quà tặng, em sẽ bán được. Sau đó, cái nào bán không được thì trả lại, anh lại giao vào cửa hàng Thiếu Nhi; còn cái bán được em trả tiền lại cho anh.

Nói chuyện xong, tôi nhận được ngay 4 thùng hàng lớn. Hàng mỹ nghệ gỗ là những sản phẩm làm ra từ nguyên liệu gỗ đặc biệt của Đà lạt, cây Bạch Tùng. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cây này, chỉ biết đây là loại gỗ không sử dụng được cho xây dựng vì quá mềm, cũng không sử dụng được cho nguyên liệu vì quá xốp, đốt chút cháy hết liền, nhưng lại rất hữu dụng cho ngành mỹ nghệ. Sớ gỗ khít, mịn, mầu trắng sang trọng huyền ảo, khi được xẻ mỏng ra với độ dày khoảng 5 ly, từng miếng gỗ mượt mà như miếng lụa, trắng vàng thanh tú được chế biến thành từng cái hộp nhỏ dùng đựng bút, hay hộp có gương soi đựng đồ trang điểm, hay nhẹ nhàng hơn là một mảnh nhỏ như bàn tay, hình oval vẽ hoa, vẽ cảnh để làm quà lưu niệm.

Số hàng anh Tuyến đưa tôi bán được khá nhiều. Sau tết, còn khoảng một thùng, anh Tuyến về, trả lại tiền vốn xong, anh Tuyến nói: “Anh là đơn vị sản xuất, cần hệ thống tiêu thụ. Từ Đà Lạt xuống, anh chỉ có thể giao cho các cửa hàng như cửa hàng Thiếu Nhi, nên còn cả một thị trường ngoài quốc doanh rất rộng. Thay vì trả hàng lại cho anh, em dùng hàng này đi chào hàng và tạo đường dây bán bên ngoài. Hàng thì vô tận, mẫu mã thì đa dạng mà lại không cần bỏ vốn, chỉ bỏ công, em sẽ là đại lý tiêu thụ hàng cho anh.”

Tôi nhận lời. Saigon lúc đó có hàng loạt các cửa hàng bán quà tặng thủ công nằm ở đường Phan Đình Phùng, Nguyễn Huệ, Lê Lợi... nhiều lắm.

Tiếc là việc làm này không bền, vì trước nhất mỹ nghệ gỗ là loại hàng không bền, nó đẹp long lanh nhưng chỉ trưng bày một thời gian ngắn là gỗ sạm lại, xuống mầu, và bong, tróc hư hỏng. Thứ hai là Đà Lạt có đặc sản là gỗ Bạch Tùng trắng đẹp, thì miền Đông Nam bộ lại có thứ gỗ khác cũng trắng tinh, cũng nhẹ, cũng xốp mà giá thành rẻ chỉ bằng 1/3 giá gỗ Bạch Tùng, đó là gỗ Lồng Mứt. Người Saigon nhanh chóng tự sản xuất các mặt hàng giống hệt mỹ nghệ Đà lạt và giá chỉ bằng một nửa, vì giá gỗ rẻ hơn, không tốn chi phí vận chuyển. Thế là chỉ khoảng một năm sau, mỹ nghệ gỗ Đà Lạt mất thị trường Saigon và miền Tây.

Trong những ngày hàng ế, không giao được, tôi chạy xe đạp lòng vòng trong thành phố. Một nơi thường ghé lại nhất vào những buổi trưa hè là Vườn Tao Đàn.

Một buổi trưa, khi chạy xe chầm chậm loanh quanh trong vườn Tao Đàn, tôi bỗng nghe một loạt tiếng động nho nhỏ đều đặn vọng tới, lách cách lách cách... Tôi chạy xe đến và thấy trong sân vườn một căn nhà dành cho công nhân một nhóm ba thanh niên đang ngồi làm việc và chuyện trò rôm rả. Các em này người thì dùng một cái đục nhỏ xíu, đục trên thanh gỗ của cây đàn tranh, người thì ngồi cưa những miếng ốc thành những hình dạng như con người hay cây cỏ, người thì đang dùng giấy nhám chà láng  phần gỗ cứng bên hông đàn. Các em thấy tôi dừng xe đứng nhìn thì vui vẻ chào hỏi… Một em hỏi tôi có biết các em đang làm gì không?

- Không biết nhưng đoán chừng là Cẩn Ốc Xà Cừ phải không?

Năm 1985, đã có nhiều người Việt xa xứ quay lại quê hương và muốn đem đi một món quà gì đó có giá trị và nhẹ nhàng, thì các loại nhạc cụ dân tộc như Đàn Tranh, Đàn Bầu, Đàn Sến, Tỳ Bà, Nguyệt... làm bằng nguyên liệu gỗ quý, cẩn ốc xa cừ là một mặt hàng được ưa chuộng, tìm kiếm và giá thành khá cao. Trên đàn thường cẩn các tích xưa, đặc biệt là các điển tích Việt Nam.

Các em đang cẩn ốc một cây đàn tranh có hai người con gái đứng bên gốc cây, một em tên Trinh hỏi tôi, coi tranh này, anh có biết tích gì không? - Biết chứ! - Tích gì? - Có phải các em đang làm tích Truyện Kiều không? Đoạn này là đoạn Kim Trọng gặp Thúy Kiều, Chàng Vương quen mặt ra chào/ Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa, phải không?

Trinh ồ lên vui vẻ, chỉ vào tấm khác, còn cái này? Tôi cười, “Kiều ở lầu Ngưng Bích phải không? Trước lầu Ngưng Bich khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung...”

Câu chuyện tiếp nối vui vẻ, các em cho biết các em ở Bình Dương, làm công cho con của ông chủ nhà này, ông ta nuôi cơm, và trả công theo sản phẩm, sau khi cẩn ốc xong, anh ta đem đi làm các công đoạn kế tiếp để hoàn thành sản phẩm và đem bán ở đường Tự Do, Nguyễn Huệ... Tôi yêu thích tay nghề mỹ nghệ và tính tình cởi mở của các em, và các em cũng quý mến tôi nên sau đó chúng tôi làm bạn, các em tới nhà tôi chơi, đi uống cà phê thân tình với nhau.

Tháng 8 năm 1985 là đợt đổi tiền lần thứ hai. Trong lúc tôi chưa biết làm nghề ngỗng gì nuôi sống gia đình thì ba anh chàng này tới, báo tin, “Tụi em tới chơi uống cà phê với anh một chút rồi về Bình Dương.

- Sao không ở lại làm việc?
- Anh Sanh hết vốn rồi, tụi em muốn làm cũng không biết ở đâu.

Bất ngờ Trinh đề nghị, hay anh làm nghề này đi.
- Cẩn Ốc hả? Anh đâu biết gì về nghề này mà làm?
- Đâu cần làm, anh chỉ kinh doanh thôi, tụi em chỉ cho anh chỗ nào mua đàn mộc, chỗ nào bán ốc, chỗ nào tách nét, chỗ nào đánh bóng làm hộp, rồi anh đem đi bán, lời lắm.
- Anh không có vốn nhiều để đầu tư.

Trinh quay ra nhìn hai bạn, rồi nói, vốn ít thôi. Bây giờ tụi em có sẵn hai cây đàn cẩn ốc rồi, chưa làm hoàn tất thôi, anh bỏ vốn chút đỉnh đưa đi tách nét, đánh bóng, lên dây đàn, bỏ hộp rồi đi chào bán. Giá một cây đàn theo em biết họ mua vô cũng phải hai chỉ vàng (chắc khoảng 400.000 ngàn) mà một cây đàn sau khi bán được anh trả cho tụi em 150.000 là được rồi.

Tôi đồng ý, thế là nuôi ba chàng thanh niên đó trong nhà, tôi cũng bỏ ra khoảng gần 100 ngàn cho việc tách nét, đánh bóng, mua dây đàn và làm hộp nhung. Lần đầu tiên đem cây đàn ra đường Tự Do, tìm một cửa tiệm nhìn vô có cảm tình, rồi làm mặt dạn dĩ bước vô hỏi thăm họ có mua đàn cẩn ốc không?

Chủ tiệm là một ông già, nói tôi mở ra coi và hỏi giá. Tôi nói:  “Ba chỉ”, ông ta lắc đầu, mắc vậy, ở đây có mối giao cho tui mỗi cây một chỉ rưỡi hà. Tôi lẩm nhẩm tính trong bụng, Chỉ rưỡi là khoảng 300 ngàn, bán vậy thì lời chút xíu, chưa hài lòng. Bất ngờ có hai người khách bước vô tiệm, rồi đến cầm lên coi cây đàn tôi còn để trên mặt quầy. Ông chủ tiệm xua tay bảo tôi, đi ra ngoài đi, lát nữa trở lại.

Tôi gật đầu đi ra lấy xe đạp chạy ra bờ sông Bạch Đằng, tới bến đò Thủ Thiêm, ngồi ghé một quán cà phê bờ sông, kêu ly đen đá mà lòng hồi hộp. Lạy Trời… sao cho mọi chuyện êm đẹp... Một giờ sau, tôi quay lại tiệm, liếc quanh không nhìn thấy cây đàn tôi đem tới nữa. Ông chủ nói, ba chỉ mắc quá, nhưng thôi tôi mua giúp cậu, cậu về làm tiếp cho tôi 9 cây nữa, ba tuần sau giao hàng được không?

Tôi nói tôi không có vốn, nên không làm một lúc 9 cây được. Ông ta gật đầu, cậu làm xong cây nào đem ra giao tui trả tiền liền cây đó lấy vốn làm tiếp.

Ngay tối đó tôi giao cho ông ta cây đàn thứ hai. Bài toán là: cây đàn mộc 60 ngàn, công thợ 80 ngàn, tiền ốc 40 ngàn, nuôi ăn ba thợ 60 ngàn, tách nét 25 ngàn, đánh bóng 30 ngàn, làm hộp 30 ngàn, dây đàn, dây tua... lặt vặt  tính ra mỗi cây đàn thành phẩm bán ra một lời một. Thế là tôi bước vào nghề Cẩn Ốc.

Trong Nam gọi là Cẩn Ốc mà hai trung tâm lớn nhiều người làm là Gò Công và Bình Dương. Ngoài Bắc gọi là Khảm Trai, với nhiều làng nghề ở Hà Tây. Giống nhau, mà khác nhau. Giống nhau vì nguyên tắc làm giống nhau, nhưng khác nhau là nguyên liệu, miền Bắc sử dụng con Trai làm nguyên liệu chính. Trai hình dáng giống con nghêu trong Nam nhưng rất lớn, bề ngang có thể lên tới ba tấc, những con trai già bên trong có khi còn có ngọc, nên ngày xưa có câu "Lão Bạng Sanh Châu" nghĩa là con Trai già sinh ra ngọc quý. Người ta bắt con Trai về, bỏ thịt đi, lấy vỏ, xẻ ra từng miếng theo nan quạt, thành những miếng xương có hình tam giác, sau đó mài mòn lớp xù xì bên ngoài để lộ ra lớp bên trong lóng lánh. Trai có hai loại, Trai Mầu và Trai Nứa.

Trai Mầu thì rực rỡ mầu đỏ, xanh dương, xanh lá, vàng cam, còn Trai Nứa thì màu lóng lánh nhưng chỉ ửng hồng.

Còn miền Nam thì nguyên liệu chủ yếu là Ốc. Nguyên liệu ốc của miền Nam thì hết sức đa dạng. đắt tiền như Ốc Đụng (Là loại Ốc tạo ra các mảnh Xa Cừ), Đĩa Vàng, Đĩa Trắng,Ốc Xác,  rẻ tiền thì ốc Dẹm, ốc Gai, ốc Heo... Lúc tôi vào nghề thì đã lai tạp chủng, một sản phảm phối hợp nhiều loại ốc, loại trai miễn sao tạo mầu sắc óng ánh hấp dẫn.

Làm một sản phẩm cẩn ốc, là phải qua 12 công đoạn: Can, Cưa, Ghép, Gắn, Vạch, Dàm, Đục, Thả, Mài, Chà, Tách, Bóng. Mỗi công đoạn là một nghệ thuật, mà chỉ cần một công đoạn làm ẩu, là sản phẩm thành không có giá trị. Tôi vì không biết nghề, nên tham gia vào sản xuất, tôi lại là người phụ trách công đoạn quan trọng nhất, công đoạn bắt đầu: Can. Chữ này có lẽ khởi đầu từ chữ Scan của tiếng Pháp. Từ mẫu hình có sẵn vẽ trên giấy mỏng, người thợ ngồi bên một cái bàn bằng kính, bên dưới có đèn, đèn chiếu lên, xuyên qua kính, xuyên qua từng miếng ốc, và tờ giấy mẫu, thợ lựa miếng ốc vừa ý, nhìn theo chiều ánh sáng, vì có nhiều loại ốc nhìn phía này ra mầu đỏ, nhưng nhìn phía khác lại tối âm u, phải lựa chiều, rồi chia mẫu hình đó ra từng phần nhỏ cho vừa với miếng ốc, mỗi tấm hình mẫu, nhiều khi cả mấy chục miếng ốc, miếng thân người, miếng đầu người, miếng thân cây, miếng lá cây, miếng nóc nhà, miếng cây kèo... Khéo léo là sao lựa mầu sắc khác nhau, tiết kiệm ốc và phù hợp ánh sáng chiếu vào.

Qua việc thứ hai là Cưa, thợ dùng lưỡi cưa nhỏ như cọng chỉ, cưa ốc viền theo vết mực.

Ghép là công đoạn khó. Sau khi có các miếng ốc rời, thợ ghép các hình vào với nhau vừa khít giống như bản mẫu, lấy băng keo trong đính lại với nhau.

Gắn là lấy nguyên dàn ốc đã gắn kết với nhau, dán lên gỗ bằng hồ, dán đúng vị trí đã dự tính.

Vạch là dùng mũi nhọn của một cây thép, vạch viền theo ốc, để có một hình dạng trên mặt gỗ. Sau đó nhẹ nhàng gỡ ốc ra để ngay ngắn trên bàn. Bây giờ trên mặt gỗ đã có những đường nét mờ mờ.

Dàm là ngôn ngữ thợ mộc. Thợ dùng mũi dàm tương tự một cái đục nhỏ xíu, bề ngang khoảng 1 ly, đục sâu vào gỗ, chỉ đục sâu khoảng nửa ly thôi, nhưng đường dàm nối tiếp nhau tạo một nét liên tục khắp bức tranh.

Lúc đó mới Đục, thợ dùng cái đục nhỏ, lấy toàn bộ gỗ ở bên trong vạch dàm ra, độ sâu khoảng nửa ly, lấy gỗ ra và làm bằng phẳng chỗ gỗ lấy ra.

Thả là công đoạn bôi keo Hải Thuyền vào các chỗ đã đục và thả lại những miếng ốc đã cưa và ghép hồi nãy vào đúng chỗ.

Ngày hôm sau, khi keo đã khô, lớp ốc nổi lên nhưng không bằng phẳng hết, vì có miếng ốc dày, có miếng ốc mỏng, thợ phải lấy đá mài mài nhẹ tay và đều đặn để mặt ốc và mặt gỗ thành một lớp phẳng lì. Đây là công đoạn Mài.

Công đoạn Mài là làm với nước, cho nên ngày hôm sau, khi đã khô ráo, thợ phải làm công đoạn kế tiếp là Chà láng gỗ, và ốc.

Kế đó là công đoạn Tách. Thợ Tách dùng mũi dao nhọn, vạch lên ốc những đường nét thí dụ vẽ lá, vẽ mặt người, vẽ cây cỏ, vẽ những nét để từ một miếng ốc ra hình dạng bụi cây, cổ thụ, tàng lá, vạt áo… Sau đó lấy sơn đen bôi lên cho lọt sơn vào lớp tách. Khi lau đi, mới ra hình dáng mà chúng ta thấy trên tranh.

Công đoạn kế tiếp là một nhóm thợ riêng, họ đánh bóng mặt đàn, thân đàn và lúc đó mới nhìn ra sự lộng lẫy của Xà Cừ.

Lúc đó cây đàn được đem về, gắn dây, treo dây tua, gẩy lên thử âm thanh, và đi đặt cái hộp bên trong lót nhung đỏ. Hoàn thành.

Một cây đàn Tranh cẩn ốc giá có thể từ 3 chỉ vàng, lên tới ba lạng vàng là chuyện bình thường. Bởi vì Đàn Mộc có thể bằng gỗ quý, mặt đàn là gỗ Ngô Đồng, khác với đàn gỗ thường, mặt bằng gỗ thông. Rồi cẩn ốc cũng vậy, một cây đàn cẩn nhiều Xà Cừ, khác với giá cây đàn khảm bằng Trai Mầu Trai Nứa. Rồi một cây đàn phối hợp nhiều loại ốc, đường ghép hợp lý để tránh nét tách, khác giá với một miếng ốc, nhờ họa sĩ tách ra vừa là cô gái, vừa là bụi cây đứng cạnh nhau.

Ngay cả nét tách cũng vậy, một họa sĩ tài ba, nét tách uyển chuyển và tỉ mỉ từng cái lông con công, từng cái vẩy con rồng, cũng khác với nét tách hời hợt loáng thoáng.

 Mấy năm làm nghề, rất nhiều anh em ở Bình Dương làm việc với tôi, lần lượt các em đó lớn lên, về quê lấy vợ, làm gia công rồi lên giao hàng cho tôi đi bán, rồi lại giới thiệu các em, cháu nhỏ hơn lên làm tiếp.

Tôi về, đi xuống Thủ Dầu Một, rồi chạy thẳng lên ngã ba Lò Chén tỉnh Bình Dương, nơi ngày xưa là trung tâm cung cấp nguyên liệu làm nghề và cũng là nơi tập trung cả một làng nghề, hàng trăm gia đình làm nghề quanh quẩn bên nhau. Là làng quê thân thiện mà ngày xưa khi đang làm nghề, tôi đã theo các em đó tới chơi, ngủ lại trong căn nhà lá, quanh quẩn những con hẻm nhỏ, đất đỏ lầy lội trong làng và quen biết khắp nơi. Bây giờ nơi đây đã thành từng khu phố sang trọng, đường sá sạch đẹp, không còn dấu vết ngày xưa.

Tôi gặp lại Trinh với một cơ sở Cẩn Ốc khang trang, nhà cửa rộng rãi, giường tủ, bàn ghế đều là đồ Cẩn Ốc. Tôi gặp lại Thanh, nay là chủ một cửa hàng kinh doanh mỹ nghệ.  Và cũng thật đau lòng nghe tin Tuấn tử nạn xe cộ, Phượng phá sản bỏ quê đi mất tích...

Về lại Saigon, muốn tìm chỗ nào đó ngồi lại để nhìn ngắm Thương xá Tax ngày xưa mà không có chỗ. Gần nhất là cà phê của khách sạn Rex nằm đối diện thương xá Tax ngày xưa, nhưng cũng không nhìn được thương xá Tax, công trình xây dựng trạm xe điện ngầm đang trong tiến trình hoàn thiện. Thèm lắm một lần về nữa để nhìn lại chỗ của ngày xưa. 

Nguyễn Minh Nữu  
27.3.2017