Thursday, November 17, 2016

2599. TRẦN HUIỀN ÂN Bài phú cổ Gia Định


TRẦN HUIỀN ÂN

Bài phú cổ Gia Định

(Trần Huiền Ân sưu tầm, chú thích)



       Tạp chí Nam Phong số 77 tháng 11 năm 1923 có đăng bài Gia Định phú, do Nguyễn Ánh Tuấn sao lục với lời giới thiệu như sau:
Bài phú này không rõ tên tác giả, cũng không rõ làm thời nào, song độ chừng trăm năm nay thì phải. Văn không phải thật là hay, nhưng tác giả có tài góp nhặt những cảnh tượng cùng nhân vật đất Sài Gòn và Chợ Lớn sắp đặt ra đối chọi với nhau đủ cách thể, như là song quan, cách cú, hạc tất, vân vân… Nay muốn xét xem cho rõ biết từng chỗ từng nơi, tưởng không thể biết hết được.  Mà có rõ được đi nữa, trông thấy cũng thương tâm, vì các nơi cổ tích nay đã di dịch biến thiên đi rồi. Vậy lục giả lục ra đây là có ý để ghi lấy quốc âm cổ thời ở trong Nam đó thôi. – NG.A.T.”

TOÀN VĂN BÀI PHÚ

       “Phủ Gia Định, phủ Gia Định, nhà đủ người no chốn chốn,
       Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn, ở ăn vui thú nơi nơi.
       Lạc thổ nhóm bốn dân: sĩ nông công thương ngư tiều canh mục,
       Qui thành xây tám cửa: càn khảm cấn chấn tốn ly khôn đoài.
       Lợi đất thìn thìn xóm Vườn Mít,
       Bình trời vòi vọi núi Mô Xoài.
       Đông đảo thay! Phường Mỹ Hội,
       Xum nghiêm bấy! Làng Tân Khai.
       Ngói liệng đuôi lân, phố thương khách tòa ngang tòa dọc,
       Hiên xè cánh én, nhà quan dân làng vắn làng dài.
       Gái nha nhuốc tay vòng tay niểng,
       Trai xênh xoang chơn hán chơn hài.
       Dù võng nghênh ngang chợ Điều Khiển,
  Quan quân rậm rật cầu Khâm Sai.
Vào Chợ Quán, ra Bến Nghé,
Xuống Nhà Bè, lên Đồng Nai.
Coi ngoài rạch Bà Nghè, dòng trắng hây hây tờ quyến trải,
       Ngó lên đồng Ông Tố, cây xanh mịch mịch lá chàm rai.
Dưới Bến Nghé hát lẳng lơ giọng con đò, giọng con rổi, (1)
Trên tàu voi ca khổn khểnh, tiếng thằng mục, tiếng thằng nài. (2)
Cây da Thằng Mọi coi bán đủ thuốc xiêm cau mức,
Cái cầu Cao Miên thấy làm nguyên cột vắp ván trai.
Trên cây Da Còm nỡ để ông già gùi đội,
Dưới dàng Cầu Khắc chi cho con trẻ lạc loài.
Đàng Nước Nhỉ chảy tiêu tiêu người thương khách lại qua hóng mát,
Quán Nước Trên dòng dợn dợn, khách bộ hành tắm mát nghỉ ngơi.
Kho Cẩm Thảo chứa thuế vua, mạch nước sữa dân ai dám đoái,
Chùa Kim Chương làm tôi Phật, tương chua muối mặn sãi trường trai.
Trong làng Cây Gõ nhà bền rường cột,
       Ngoài chợ Cây Vông giậu cắm gốc gai.
Nhắm kinh mới như chỉ giăng đàng đất,
Đi chợ hôm vừa tối sập mặt trời.
Chùa Cẩm Đệm nên nghiêm, rựt rựt thấy sãi nằm nệm gấm,
Xóm Hoa Nương đua nở, dầy dầy coi khách bẻ nhụy người.
Trong Chợ Lớn thinh thinh góp nhóp đủ loài rừng vật biển,
Trên Cầu Quan lộ lộ lại qua nhiều chú đội cậu cai.
Giếng Chùa Bà nhiễm mạch cam tuyền, trai gái thảy thỏa tình khát vọng,
Cầu Bà Thuông trên đường quan lộ, lớn bé đều phỉ chí quy lai.
Choi chói bấy! Chùa Ông Quan Đế, nền trung nghĩa cao danh ngàn thuở,
Thăm thẳm thay! Miếu Đức Thánh Nhơn, mối tư văn dựng để muôn đời.
Coi chùa Ông Bổn đầu cân, dám quên chữ ngọn rau tấc đất,
Thấy miếu Công Thần chư vị, chạnh nhớ câu niềm chúa nghĩa tôi.
Kẻ lâm dân vái Bà Chúa thai sanh, xin mẹ tròn con vuông, chẳng đặng trai thì đặng gái,
Người ký chúc lạy Chùa Bà Mẫu Hậu, xin thuận buồm xuôi gió, đi đến chốn về đến nơi.
Cắc cớ thợ lò rèn, nghe chạc chạc nhà bang đánh búa,
Lạ lùng xóm lò gốm, chơn vò vò bàng cổ xây trời.
Khỏi lo bề lắm nhắm dầm sương, rong vác người đi chợ sỏi,
Hằng thấy kẻ hùng hào xúc ốc, nồng nàn kẻ ở lò vôi.
Cứng cỏi bấy, thứ đờn bà xứ Gò Vấp,
Thanh tao thay, ông Hòa thượng chùa Cây Mai.
Giếng Hàng Xáo múc lao xao kẻ chở thuyền người chuyên bộ,
Xóm Cối Xay làm lạc chạc chồng đục họng vợ trổ tai.
Trong Cầu Đường chuốt ngót ngọt ngon, đủ đường cát, đường hạ, đường phèn, đường phổi, 
Ngoài Xóm Bột phơi phong trắng rã, những bột mì, bột lọc, bột đậu, bột khoai.
Đồn tập trận rộng thênh thênh, coi xấp xỉ hòng bằng Thái Nguyên dã,
Gò nổ súng cao trập trập, nhằm sâm si nửa tợ Vọng Tân đài.
Chốn Thi trường lẩy lẩy nho phong, đền phỉ chí hộc hồng, một thuở bảng vàng lăm chiếm,
Nhà Quốc học dày dày sĩ tử, gắng gia công đăng hỏa, mười năm đèn sách dùi mài.
Cầu Cây Gõ trây trây, ốc gẩm hổ ngươi cầu ông Bỉnh,
Quán cao lâu vọi vọi, đành thay mắc cỡ quán bà Mai.
Trước phường phố bày hàng bày hóa, 
Sau nhà quê trồng bắp trồng khoai.
Đồn tiếng Nam châu thời đã phải, ghe đen mũi ghe vàng mũi, vào ra coi lòa nước,
Người phương Đông qua lại bán buôn, tàu xanh mang tàu đỏ mang hàng hóa ngất trời.
       Trọ trẹ ở dưới sông bọn Huế kéo neo hồ hố hụi,
Xi xô ngang đường cái khách già rao kẹo ối châu ôi.
Dãy thầy bói chiếm bên đường, thấy gieo tiền hào sách hào đơn, lời kỳ cục quẻ rằng linh quẻ,
Bọn quân phường ngồi dưới cội, nghe đổ sứa hồi khoan hồi nhặt, giọng hoan ương hơi thiệt tốt hơi.
Lính nghèo ngoài cửa kéo chổng khu, tội báo ham vui chơi con thỏa, 
Trùm ruộng trong ghe xui mất của, cũng vì vác mặt ngó cái đoi.
Nhiều nhà giàu một lạ một lùng, giàu có kẻ đến vàng đến vẹo,
Mấy ai khó cho bần cho tiện, khó sạch trơn và đất và dùi.
Chốn chốn phong quang ca xướng,
Nhà nhà lịch lịch an nơi.
Lũ bảy đoàn ba, rựt rựt thấy bạn mai khách trúc,
Kẻ qua người lại, rần rần nghe nhạc ngựa chuông voi.
Muốn nói không hay vừa hết,
Muốn nghe không hay vừa thôi.
Và tôi nay:
Học còn vắn học, tài vốn thua tài.
Mắt nhìn thấy dân phong vật phụ,
Tính thừa ưa xúc cảnh hứng hoài.
Góp nhóp những lời quê tiếng kịch,
Nối nắn nên giọng vắn câu dài.
Một thủa vui thì ghi để,
Khi buồn lại giở ra coi…”
                       
Nguyễn Anh Tuấn sao lục (Vĩnh Long)

 Chú thich trên tạp chí Nam Phong:
(1) Con rổi là phường đánh cá. 
(2) Thằng nài là người quản tượng, người đánh ngựa.