Wednesday, May 27, 2015

1738. Thơ ĐINH CƯỜNG Trầm ngữ



Photo by PCH - Scibia, April 2015



Đẹp không cùng
đẹp từ tâm
đẹp
nghiêng ngửa lá
đẹp
trầm ngữ thanh …
( Huy Tưởng )


Không có gì nói sao
buổi sáng?
một người vẫn ngồi
với ly cà phê đen đậm
ở cái góc đó

quán cà phê
sau giờ đi làm
vắng bớt người
vẫn hai chiếc bàn đâu lại
những người bạn già
gặp nhau hàn huyên

tôi cũng già
mà môt mình ên
giờ này mấy bà mẹ
hay dẫn con nhỏ theo
những đứa bé kháu khỉnh

buổi sáng không có blues jazz
nắng vàng ánh lên
ngoài cánh rừng


ngoài parking lot
màu trời xanh không mây
không có cánh chim nào bay …

buổi sáng ngồi một mình
giọt cà phê đổ
như lệ chảy
và nhớ bạn, người thi sĩ
bên cánh rừng Scibilia
có một đêm cũng vào ngủ
trong bệnh viện
để được bác sĩ theo dõi
về chiếc dạ dày...

thì ra tưởng bạn không bao giờ
bệnh, mừng bạn về nhà yên lành
và đã post bài lên blog trở lại …


Virginia, May 27, 2015
Đinh Cường


- Chân dung như có giọt lệ
màu cà phê trên giấy
dinhcuong



1737. ĐINH CƯỜNG Họa sĩ Trương Thị Thịnh, tấm gương phụng hiến cho nghệ thuật





Đinh Cường
HA SĨ TRƯƠNG TH THNH,
TM GƯƠNG PHNG HICHO NGH THUT


Họa sĩ Trương Thị Thịnh



Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu

(Bùi Giáng)


Chị Thịnh. Chúng tôi chỉ quen gọi như thế, khi nhắc đến. Bởi vì đã từ lâu, chúng tôi xem chị như người Chị Cả trong sinh hoạt hội họa của miền Nam – từ thập niên 1950 cho đến tận bây giờ. Đã hơn nửa thế kỷ sống với sắc màu. Ở chị vẫn toát ra một tấm gương say mê, thư thái, an nhiên, dù năm nay đã 87 tuổi. Mỗi lần về San Jose là mỗi lần chúng tôi hẹn nhau cùng đến thăm chị ở ngay trung tâm thành phố, trong một căn apartment rộng ở tầng 3, khi nào cũng phone trước, chị xuống ra đường đón lên…

Và thế nào chị cũng mời cơm chiều tại cái tiệm Tàu ở gần nhà. Nhớ năm ngoái, cùng dự buổi cơm chiều có Hải Phương và Quận, Nguyễn Xuân Thiệp, Lữ Quỳnh và họa sĩ Lê Quế Hương, người bạn vong niên, hay chạy lui chạy tới cùng chị … “chị luôn hân hoan đón tiếp bạn bè đủ mọi lứa tuổi, một cách nồng nhiệt… Họa sĩ Trương Thị Thịnh đã cho chúng tôi những bài học rất quý giá về sự quý phái, nghiêm chỉnh, hết mình với nghệ thuật, về sự sang trọng, tư cách và tận tình với cuộc đời, với con người.” (Vựng tập Trương Thị Thịnh – Nửa thế kỷ sống với màu sắc – 2004)


Trương Thị Thịnh trong studio San Jose 1995


Xuống thuyền, sơn dầu trên vải bố 91×60 in
Trương Thị Thịnh – 1991
(Coll. Mr. & Mrs. Trương Hồng Sơn – Virginia)


Với Nguyễn Xuân Hoàng, đồng hương với chị ở Nha Trang: “Nếu tính từ ngày bước chân vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định 1954 thì đến nay bà đã có hơn nửa thế kỷ sống giữa và sống với thế giới màu sắc Mái tóc bạc trắng, dáng cao, một khuôn mặt có những nét tự tin và phúc hậu, họa sĩ Trương Thị Thịnh trẻ hơn tuổi của bà rất nhiều. Tôi nhìn bức tranh Biển Nha Trang nói với bà là hồi nhỏ khi còn học tiểu học sáng nào tôi cũng đi ngang nhà bà. Hồi đó bà đã là một họa sĩ. Và tôi là một chú nhóc con. Những ngày biển động, thành phố run lên, mưa gió tầm tã, những trụ điện bị ngã, cây cối bị gẫy nát, trường học đóng cửa. Cả khu phố mất điện. Bà đứng trước cửa nhà tối om, nhưng tôi vẫn hình dung thấy những bức tranh trong phòng khách… Tôi hỏi bà còn nhớ tên con đường. Bà nhắc đường Trường Học – Rues des Écoles – Sau này đổi tên thành đường Hàn Thuyên.” ( Nguyễn Xuân Hoàng – Ngày Xuân nói chuyện với nữ họa sĩ Trương Thị Thịnh – Việt Mercury – số 260, January 16 – 2004)

Họa sĩ Nguyễn Trí Minh


Chợ ngoài trời, sơn dầu trên bố 71x 91 in
Nguyễn Trí Minh – 1991
(Coll. Mr. Vũ Đình Thịnh)


Thời trước 1975 Trương Thị Thịnh cùng chồng, Nguyễn Trí Minh [1], là hai họa sĩ nổi bật trong lối vẽ sơn dầu phóng khoáng. Chị Thịnh vẽ nhiều về thiếu nữ, chân dung. Nguyễn Trí Minh vẽ phong cảnh bằng bay rất mới, anh chị đi đây đi đó nhiều … Tokyo, Paris, Washington DC… ở đâu anh cũng vẽ từng tập phác thảo bằng màu aquarelle tuyệt đẹp. Những nét phác thảo tài hoa hiếm có. Cuộc phỏng vấn chung hai họa sĩ Trương Thị Thịnh – Nguyễn Trí Minh của Nguiễn Ngu – Í trên báo Bách Khoa số 135 ngày 15-8-1962 cho thấy anh chị có một cuộc sống thật lý tưởng với hai người con, một gái và một trai… Nay người con gái chị tiếp nối nghiệp bố mẹ đi vào con đường nghệ thuật: “Khi lập gia đình, một lần nữa Maman hòa cùng với phong cách hội họa của Ba em, họa sĩ Nguyễn Trí Minh, người cùng mang trong máu hơi thở của nghệ thuật đương đại. Từ đó cuộc sống gia đình chìm đắm trong bầu không khí đầy màu sắc, đầy ắp ngôn ngữ nghệ thuật. Thật là một môi trường tuyệt diệu! Em may mắn vì đã được sinh ra, lớn lên thừa hưởng những tài sản tinh thần vô cùng quý giá và tuyệt vời ấy cho nên em đã chọn Hội họa như là tình yêu, lý tưởng của đời mình.” (Nguyễn Trí Minh Quang – Vựng tập Trương Thị Thịnh – Nửa thế kỷ sống với màu sắc – 16-11-2004)

Paste vào đây đoạn ghi cách đây mấy năm như một kỷ niệm:



CHIỀU TỪ SAN FRANCISCO
VỀ LẠI SAN JOSE GHÉ THĂM CHỊ THỊNH


gởi Minh Quang, các bạn Quế Hương, Hải Phương và Quận và Nguyễn Xuân Thiệp


Nhớ gói cá hồi hung khói rất ngon
Nguyễn Trí Minh Quang gởi cầm về cho mẹ
cám ơn người họa sĩ trẻ tài hoa duyên dáng
nhìn giống chị Thịnh quá, Duy Thanh nói
người con gái mỏng manh ấy
ở giữa lòng phố thị, lên building nhiều tầng
qua mấy cầu thang máy, qua hai khoảng sân vườn
những ly rượu chát trắng buổi trưa trên cao
nhìn xuống thành phố San Francisco
như muôn vàn hình vuông xám lấp lánh
mây như sóng biển trắng đứng im
rất nhiều cánh chim hải âu chao nghiêng
Trưa, nhìn tranh, nghe như có tiếng gà trống gáy
tiếng gà trưa gáy khan bên đồi [1]
ôi chiếc soutien mỏng manh, mấy tàu lá rũ
con gà mái ngoảnh đầu, gamme màu xanh lục non
toile linen thứ thiệt, họa sĩ với ngọn lửa bừng
sức sống nghệ thuật, cám ơn Minh Quang [2]
bức tranh không nói lời gì ngoài sự thật
vẽ, người với tranh là một [3]
Và chị Thịnh như người chị cả
tôi nói cùng Quế Hương [4]
người bạn họa sĩ hay gọi điện thoại thăm
và thường lui tới chị lỡ khi chị bệnh
nhớ nhiều năm trước ghé thăm, căn phòng nhỏ
ở tầng bốn đường số bốn, downtown nơi chị ở
bao nhiêu tranh, có cả bức chân dung Đỗ Quang Em vẽ chị
từ lâu lắm, chị đậu thủ khoa khóa một
cùng khóa Nguyễn Thanh Thu với tượng Thương Tiếc
bị những người lính Bắc Việt giựt sập và Hiếu Đệ với tranh
châm biếm ba anh bộ đội trèo cây đu đủ không gẫy
khiến anh bị tra vấn khi ở tù
nay anh đã mất ở Michigan vừa tròn bốn năm…
Chiều trên San Francisco về ghé thăm chị Thịnh
chị đã đổi chỗ ở, vẫn downtown, gần chỗ cũ, nay tầng ba
đường San Fernando, chị xuống đón chúng tôi dưới đường
sau khi tìm được chỗ đậu xe, thấy thương quý chị vô cùng
tóc bạc trắng, hơn tám mươi vẫn còn khỏe là mừng
bây giờ chị nói tránh những xúc động
như khi lên thang máy
và từ thang máy bước ra đi vào dãy phòng
có cánh cửa không mở làm chị sợ (cánh cửa khi còi báo động gỉả
chưa kịp tự động mở) chị nói chị cũng hết vẽ sơn dầu
tranh đi gởi nhà khác vì không chỗ để, phòng chị còn treo mấy bức mới
vẽ nhiều mèo làm nhớ Foujita, vẽ nhiều thuyền nhiều hoa
nhiều dáng thanh xuân là khí hậu của impressionisme lyrique
màu sắc đường nét hòa quyện gây ấn tượng trữ tình
như trong bức Duyên Dáng vẽ năm 1960 chị nói chị vẫn còn thích
Cám ơn chị đã đãi buổi ăn chiều tiệm Tàu gần nhà
nấu các món ăn Việt rất ngon
hàn huyên bao nhiêu chuyện cũ
nhớ hoài ống sơn dầu màu vàng chanh chị cho
những tháng ngày sau bảy lăm rất hiếm quý
chị hiền từ tự tin, trong chị có chút gió biển mặn mòi Nha Trang
chút Huế đài các, chút Sài Gòn phóng khoáng
chị nhảy đầm đẹp, từng làm người mẫu áo dài décolleté
và quê quán Bình Dương, nơi rừng cao su đất đỏ nuôi tuổi nhỏ tôi
Bình Dương – Thủ Dầu Một còn có Lê Thành Nhơn, Hồ Hữu Thủ
Chúng tôi luôn xem chị như người chị còn lại tài hoa vẽ giỏi
riêng tôi xem chị như Maria Helena Vieira da Silva [5]
những nét vẽ chắc hình khối mạnh
một thế giới màu sắc nồng ấm tình người, tình nhân loại…


Virginia, 4 April,  2012

[1] lời ca khúc Trịnh Công Sơn
[2] họa sĩ Nguyễn Trí Minh Quang, BFA, Pratt Institute, NY 1990
[3] câu nói của họa sĩ Nguyễn Gia Trí
[4] họa sĩ Quế Hương, BA of Art and Design, San Jose State University
[5] họa sĩ Maria Helena Vieira da Silva (June 13,1908 – March 6, 1992)


Là họa sĩ nổi tiếng từ mấy thập niên, hình ảnh tài hoa, nhu mì của chị làm nhớ Lê Thị Lựu, họa sĩ của thời Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Là một giáo sư lâu năm, kinh nghiệm, từ dạy trường Trung học Pétrus Ký cho đến trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, chị đã tận tụy giúp đỡ bao nhiêu sinh viên. Chị có nhiều môn sinh, ngày nay là những họa sĩ đã thành danh…
Tranh Trương Thị Thịnh có phong cách ấn tượng và trữ tình, kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật Đông – Tây. Chị còn được biết đến như một họa sĩ có biệt tài về vẽ chân dung. Trong lần bày tranh An Ocean Apart năm 1995, họa sĩ Trương Thị Thịnh đã phát biểu quan niệm sáng tác của mình: “Tôi làm tranh theo cảm xúc, đem thế giới của quá khứ nhốt vào trong tranh, làm thành một bản hòa âm của đời sống thôn dã, huyền bí và hư ảo của quê hương” . Và chị yêu Quê hương với Nghệ thuật là một.


Virginia, May 22, 2015
Đinh Cường


Trương Thị Thịnh sinh năm 1928 tại Huế.
1954 – 1958 Sinh viên trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (tốt nghiệp thủ khoa khóa 1)
1959 – 1963 Giáo sư hội họa trường trung học Pétrus Ký – Sàigòn
1964 – 1980 Giáo sư trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định sau 1975 thành Đại Học Mỹ Thuật TP. HCM
1965 – 1975 Triển lãm chung tại Úc, Pháp, Nhật, Đài Loan, Brazil và Hoa Ký
1995-1996-1997 “An Ocean Apart” Smithsonian Institution Traveling Exhibition
2002 Certificate of Recognition của tiểu bang California, công nhận người họa sĩ dành thời gian 50 năm cho nghệ thuật hội họa do bà dân biểu Helen Alquist thay mặt thống đốc tiểu bang trao tặng.
Hiện sống tại San Jose, California.


GIỚI THIỆU SÁCH MỚI LỘC TRỜI Tập truyện ngắn Nguyễn Âu Hồng





GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

L Ộ C  T R Ờ I
Tập truyện ngắn Nguyễn Âu Hồng



Sách dày 202 trang, trình bày trang nhã, 
tranh bìa của họa sỹ Đinh Cường.
Nhà xuất bản SỐNG liên kết với tác giả, Amazon 
in ấn và phát hành, tháng 5.2015.

Bạn đọc muốn mua sách, xin liên lạc các địa chỉ dưới đây:

1. Địa chỉ email của tác giả: nguyenauhong@yahoo.com 
Cell phone: 360-836-7372

2. NXB SỐNG:

- Liên lạc trực tiếp: NXB SỐNG

15751 Brookhurst St - CA 92683
Tel. 714-531-5362

- Liên lạc email: tuanbaosong@gmail.com





1736. Thơ NGUYỄN LƯƠNG VỴ Hỏi và đáp


NGUYỄN LƯƠNG VỴ
HỎI VÀ ĐÁP


Nhiều khi thầm hỏi trời sao
Có không một cõi chiêm bao đi về?
Trời rằng: Sự ấy đề huề
Hai bên nhật nguyệt bốn bề hồng hoang
Sao reo: Vũ trụ rỡ ràng
Tiếng thời gian với không gian tỏ ngời
Hắt hơi ai mới qua đời
Cầu mong chim hót đôi lời cho... vui

Nhiều khi thầm đếm giật lùi
Thai nhi ngày ấy ngậm ngùi lắm không?
Ôm nhau bú mộng phập phồng
Tinh cha huyết mẹ đã nồng điêu linh
Mười ngày chín tháng khai sinh
Chia lìa cuống rốn rập rình tai ương
Tân Thanh bắt nhịp Đoạn Trường
Con người con ngợm tỏ tường con ma

Nhiều khi thầm gọi tuổi già
Tang thương mấy bận quáng gà thiệt sao?
Than ôi sử lịch nháo nhào
Máu tươi máu tưới máu trào máu trôi
Ga đời nhầy nhụa tanh hôi
Trần gian chết đứng chết ngồi bao phen
Con ma thức dậy thổi kèn
Con người con ngợm đốt đèn nhìn nhau

Vậy thôi chẳng hỏi trời sao
Đếm đo gì nữa chiêm bao hiện tiền
Câu thơ ứng mộng cồng chiêng
Bụi bay vang dậy âm thiêng vang lừng
Lửa xanh sương trắng hồn rừng
Vầng trăng tiểu muội rưng rưng sơ đầu
Tiểu khê nước chảy qua cầu
Hương màu xứ sở nhìn nhau đủ rồi...


Nguyễn Lương Vỵ
05.2015




1735. Thơ HOÀNG XUÂN SƠN 10 giờ / mệt thì nghỉ / giấc thuỳ




HOÀNG XUÂN SƠN


10 giờ

rịn xuống
ướt dây lưng quần
mồ hôi của nắng
bồ quân da người
khi không mà chẻ nụ cười
tiếng khanh khách.  lặng
tiếng rơi ngoài đồng
vàng thêm một chút oi nồng
bữa quên đứng lịm nghe hồng phất phơ
hương của trời bắt khít vô
nụ thin thít
đúng mười giờ.  rộ hoa

  
mệt thì nghỉ

làm thơ mệt nghỉ em ơi
khoanh lại một chỗ ngồi rồi ở không
ta cũng ví như cánh đồng
có lúa thì mọc có bông thì trình
làng buồn nhớ xóm u minh
nhớ người thất lạc ôm tình bỏ đi
làm thơ.  lạnh lắm xuân thì
nóng hừng hực lửa sân si cuối đời


giấc thuỳ

               không một chỗ về trú
                      quê nhà khô nắm tay


người ngồi.  với nghi thức.  lâu
nghe kinh trú niệm chín mầu như lai
bữa trưa.  sợi nắng vươn[g] dài
len qua cửa ngọc lên đài tịnh sen
người ngồi.  với dáng rất quen
là nhân thân của ánh đèn lưu ly
sáng trong nhau cũng lạ kỳ
cũng lan với tối cũng thuỳ với trăng


hoàng xuân sơn

tháng năm mười lăm

Tuesday, May 26, 2015

1734. Thơ BÙI GIÁNG Thưa em





BÙI GIÁNG
Thưa em

Chân dung Bùi Giáng
dinhcuong



Thưa em đời rộng đang chìm
Người trao kẻ giữ đứa tìm chưa ra
Hồi sinh hồng lệ trao quà
Từ Bình Nguyên rộng lại Nhà thăm nhau


Bùi Giáng


Monday, May 25, 2015

1733. Nguyễn Thị Khánh Minh NGUYỄN ÂU HỒNG, VÀ TẶNG PHẨM CHO TÌNH NHÂN





Nguyễn Thị Khánh Minh
NGUYỄN ÂU HỒNG,
VÀ TẶNG PHẨM CHO TÌNH NHÂN






Vào khoảng tháng 5 năm 2014, tôi nhận được tập truyện Lá Daffodil Thắt Bím của Nhà Văn Nguyễn Âu Hồng do Nhà Thơ Mai Quang đem đến nhân hôm thăm tôi vừa mổ xong.

Ngay tựa đề đã khiến tôi thích thú, rất chủ quan, vì đó là hoa biểu tượng cho tháng sinh một người thân thiết của tôi, nó lại là loài hoa tôi biết đến lần đầu, khi đặt chân tới San Jose, một ngày của mùa xuân, cái mầu vàng tươi mạnh mẽ đã gây cho tôi hứng khởi nơi vùng đất mới, ít ra, bước khởi đầu đã có một điều làm ta say mê. Và sau đó lại thắc mắc, sao lại có một bím tóc bằng lá daffodil nhỉ. Chắc là người yêu của chàng. Tôi nghĩ thế. Và tình cờ ở cái mở đầu tiên tập truyện, Hoa Trâm Trâm! Tôi thốt lên, trời ơi! Lại là trâm trâm bé dại của tôi ư?!

Và tôi với Hoa Trâm Trâm, rồi Lá Daffodil Thắt Bím suốt buổi hôm đó. Một buổi dạt dào cảm xúc, cảm xúc về tình yêu trẻ trung, lâu lắm mới có được từ câu văn dòng thơ…

Tôi mở laptop, gõ vào trang trắng mấy chữ, Nguyễn Âu Hồng Và Tặng Phẩm Cho Tình Nhân. Tự nhiên buột ra thế, vì rất đồng ý với Nhà Văn cùng quê, khi nói rằng tập truyện là món quà để tình nhân gửi tặng tình nhân. Đúng như vậy, vì Lá Daffodil Thắt Bím, với những tình cảm giản dị, thực đến nỗi đánh động nơi người đọc cảm xúc sâu thẳm của tình yêu, làm xao xác châu thân lẫn nhịp đập trái tim.

Tôi gõ cái tựa đề, rồi bỏ lửng, vì đau ốm, rồi lo phần layout tập tản văn của mình… Hôm nay, nhớ đến nhà văn vì đang tìm địa chỉ để gửi tặng sách. Lại thêm, người bạn đời vừa mua về cho một chậu hoa daffodil, bỗng nhiên nhớ đến việc làm còn dang dở. Thế là trong hương thoảng của thuỷ tiên vàng, giở lại Hoa Trâm Trâm, Lá Daffodil Thắt Bím (LDTB)

Chắc chỉ có người ở Khánh Hoà, những làng xã loanh quanh nhau, Diên Khánh, Ninh Hoà, Thuận Mỹ, Thành… nghĩa là những nơi mà Trâm Trâm lan tới đâu, thì người nơi đó có kẻ biết hút mật ngọt của nụ hoa ngũ sắc thơ ngây ấy… Như chàng Hùng trong Hoa Trâm Trâm:

“…nhờ vậy tôi có cớ rủ Mén đi hút mật hoa trâm trâm cho miệng được thơm…”
…nghe tôi nói “đi hút mật hoa” Mén trố mắt nhìn “người chớ phải ong, bướm sao đi hút mật hoa?”. Dễ quá mà, cứ dùng đầu ngón tay tóm lấy chùm hoa ngũ sắc trên đầu búp, kéo nhẹ lên rồi đưa những cuống hoa li ti vô miệng mà hút nhuỵ. Không no đủ mập béo gì, nhưng nó thơm miệng và là một công việc đầy thơ mộng…” (trang 106,107, LDTB)

Đây cũng là kinh nghiệm của anh em tôi, hồi nhỏ mỗi lần về quê Thuận Mỹ, đứa nào, nhưng nhất là tôi, cũng thích mật hoa này. Anh cả tôi khi xa nhà, làm thơ cũng không dứt được hình ảnh đìa cá trước ngõ làng, đoàn xe lửa chạy và những bụi trâm trâm, …Mặt đìa lặng rơi tàu cau cũ kỹ Xe lửa xa rồi những bụi trâm trâm…” (Nguyễn Hồi Thủ)

Với Nguyễn Âu Hồng, hoa trâm trâm còn giữ của tác giả những cảm xúc quá là trữ tình, vì nó được nhớ tới cùng với hình ảnh của người con gái, mà “mãi mãi là nguồn mạch tươi mát nuôi dưỡng tâm hồn…”

“- Ong, bướm đắm đuối khi hút mật hoa, nhuỵ hoa, Mén thấy thế nào, có đắm đuối không?
- Thấy thích thích, hay lắm.
- Chúng ta thua xa ong, bướm chỗ này. Cùng hút mật hoa mà ong, bướm thì đắm đuối, còn chúng ta thì chỉ thấy thích thích.
Tới đây thì Mén đã hiểu ẩn ý của các điệp từ “ong, bướm, nhuỵ hoa, đắm đuối”…”(trang 107, LDTB)

A, có lẽ chàng muốn dùng hình ảnh ấy để dẫn nàng tới được cảm xúc đắm đuối hay sao. Còn nữa, tôi không sao mà dừng được cái tò mò muốn biết đôi thanh niên ấy đã hưởng vị ngọt của hoa trâm trâm, vị đại sứ đáng yêu giữa họ, ra sao,

“…Rồi những ngón tay thon nhỏ, mềm dịu của Mén măn măn trên mái tóc tôi kiểu như người ta măn bắt chí. Nhưng Mén không bắt chí, cô bé choàng tay đưa ra trước mắt tôi mấy cánh hoa trâm trâm bé tí như bông khế. Tôi hé mắt nhìn thấy nhưng không đưa tay ra nhận mà khẽ kéo bàn tay có mấy cánh hoa đã héo úa xuống sát miệng, đưa lưỡi liếm như kiểu thằn lằn bắt muỗi. Không hiểu sao trên mái tóc tôi lại vướng nhiều hoa trâm trâm quá. Mén cứ liên tục đưa bàn tay có mấy cánh hoa ra trước mặt tôi. Tôi nhâm nhi những cánh hoa có dính mồ hôi của Mén lẫn với mùi tóc của chính mình, lúc đầu chẳng thấy có gì đặc biệt nhưng rồi cái hương vị ngọt ngào cứ ngấm vào người làm tôi đê mê.” (trang 109, LDTB)

Tôi rất thích những hình ảnh so sánh “như măn bắt chí, kiểu thằn lằn bắt muỗi” trong đoạn trên, nó kéo cái không khí thơ mộng vào hiện thực rất người, rất thơ dại, truyền cho người đọc cảm xúc của giác quan. Thật thơ mộng, cái mộng mơ không ở trên trời, nó ở trên da thịt ta mà vẫn có cái gì đó thăng hoa đẹp đẽ. Thăng hoa thế nào? Đọc tiếp nhé,

“…Rồi tôi ngủ hiền lành như đứa trẻ ngây thơ ngủ say trong lòng mẹ. Lòng mẹ! Sự nồng ấm tinh tươi từ tấm lòng trinh bạch của Mén cũng bao la như lòng mẹ vậy.

Khi thức giấc, quả nhiên tôi đang nằm trong tư thế của đứa bé đang bú sữa mẹ, nằm trong lòng Mén. Miệng tôi cũng đang kề bầu sữa, nhưng nó còn nhỏ xíu như cái chũm cau. Cái chũm cau không có mùi cau cũng chẳng thơm mùi sữa mà thơm mùi con gái tuổi chớm xuân, mùi hương đồng cỏ nội, mùi hoa trâm trâm phảng phất.” (trang 110, LDTB)

Hoa trâm trâm giờ thành biểu tượng tình yêu của chàng. Giờ là một sợi dây cột tình yêu ở lại cùng hai người. Làm sao có thể quên khi bước chân một ngày xuôi về quê cũ nhìn màu tím ấy rưng rức khắp đồng cỏ? Và ký ức về tình yêu có bao giờ mà không lay động ta trong từng ngày trôi?

Cảm ơn nhà văn. Nhờ vậy, tôi biết được tình cảm mãnh liệt mà trong sáng của phía đối tượng, cái tình cảm đầu đời trong vắt của một thứ hương mà ông gọi là “hương kỳ ảo”… Có lẽ mai kia, khi về lại Thuận Mỹ, tôi sẽ gặp lại hoa trâm trâm -người bạn cũ-, với một tình cảm khác nữa, để nhìn và ngửi, mút nhuỵ của nó, biết rằng nó đã cất giữ của chúng tôi những tình cảm trong sáng biết bao của tuổi thơ dại, và lồng vào đó cái tình quê hương, ôi trâm trâm…

Một truyện khác, cho tôi thấu cảm xúc tặng phẩm tuyệt đẹp của tình yêu, là Mùa Cá Bẹ. Dĩ nhiên trong truyện không thiếu những hình ảnh hấp dẫn của mùa đi câu, những so sánh thú vị giữa cá mòi Việt Nam và cá bẹ, nhưng những nét chấm phá của tình yêu hai nhân vật lại là ánh sáng hấp dẫn tôi để nạp được cho mình những cảm xúc dịu dàng. Như thể từ “Thực đã vực được Đạo,” mà văn chương Nguyễn Âu Hồng có cái hấp dẫn rất riêng. “Thực, Đạo” tôi nói ở đây chỉ là mượn nôm na, chứ tôi muốn nói đến cái không khí Thực Mơ đan xen trong cấu trúc dựng và viết truyện của ông. Luôn luôn, ông chắp cho ta đôi cánh để bay lên rồi sau đó dọn sẵn một bãi đáp xuống. Mơ mộng phiêu phiêu, rồi bỗng một làn gió thổi mơn man để thấy rõ ốc nổi trên da. Đọc văn ông, độc giả có lẽ, không ít người như tôi, có cảm xúc của giác quan như thế, đồng thời với cảm nhận cái phiêu bồng của mơ tưởng.

Xin đọc, “-…vào mùa cá bẹ chiều nào đi làm về tôi cũng lên đây câu vài ba tiếng và luôn được thoả thích, đê mê xuất thần liên miên…” (trang 50). Để ý: câu vài ba tiếng, cảm giác thực của giác quan “thoả thích đê mê” đến cảm xúc tinh thần: “xuất thần…”

“- Người Nhật và người Hàn quốc coi các món ăn chế biến từ cá bẹ là “quốc hồn quốc tuý”, chạm tới cá bẹ là chạm tới niềm thương nỗi nhớ của họ…
-Ra vậy. Tôi là người Việt Nam. Tôi chạm tới cá bẹ là để đỡ nhớ cá mòi. Mùi thơm của cá mòi nướng đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người Việt Nam chúng tôi. (trang 51, LDTB)
…Dù đang trò chuyện với Kyong-bin Choe, nhưng khi đầu cần nhịp đúng kiểu cá cắn câu, ông Minh vẫn chụp lấy cần thao tác kịp lúc.”
…Kyong-bin cúi xuống đưa tay vuốt nhẹ lên mình cá… thận trọng và nhẹ nhàng như người ta chạm vào một vật dễ vỡ hoặc như chạm vào một vật kỷ niệm đã bị thất lạc lâu ngày…” (trang 52, 53 LDTB)

Quá đẹp và mới mẻ cái so sánh nên thơ khi sờ lên lớp vẩy trơn nhớt của cá. Những đẹp đẽ như vậy bắt gặp rất nhiều trong tập truyện, để cảm thấy từ những vật bình thường tác giả lại gắn với cái nhìn tinh tế nhân bản đến thế. Và đây, cuối buổi câu cá có cái ngoặc nên thơ này,

“…nhưng Kyong-bin đã kịp chạy theo giữ ông lại. Cô không nắm giữ ở tay hay vai mà đu lên cổ… và ông cứ muốn đứng như vậy mãi để cảm nhận mùi hương của da thịt tuổi trẻ ngấm vào từng tế bào… ông còn linh cảm kể từ nay, với sự huyền nhiệm này, ơn mưa móc và bổng lộc của đất trời sẽ chuyển hoá những năm tháng cô đơn buồn khổ trên bước đường lưu lạc xứ người thành những năm tháng nồng ấm tươi vui, từ giây phút này và mãi mãi. (trang 56-57)
…- cá bẹ và cá salmon nhờ mùi nước mà tìm về cội nguồn. Còn chúng ta nhờ mùi cá mà nhớ về quê cũ. - mà tìm đến nhau.” (trang 58 LDTB)

Thú vị đấy chứ, giữa cái không khí khởi đầu đưa đẩy của tình yêu là con cá. Trên kia là hoa trâm trâm. Và từ đó mà tác giả cho ta hưởng cảm giác nồng nàn trong suốt của tình yêu, đúng nghĩa.

 “…hết chìm đắm trong mầu xanh thăm thẳm của núi rừng, hai người lại thăng hoa theo những đám mây phiêu bạt trên đỉnh Hamilton. Ông Minh ôm sát Kyong-bin Choe vào ngực mình. Trước thiên nhiên ngát xanh rộng mở, tấm thân cô trong vòng tay ông với tóc dài tung bay và da thịt toả hương có cảm giác như một tinh thể quí giá được kết tụ sau bao vật đổi sao dời… “Nothing left but the core.” Ông thì thầm: Kyong-bin Choe ơi / Anh muốn tỏ cùng em / lời tình yêu tươi như ca dao / thơm mùi cá nướng toả bếp nghèo / thơm mùi bắp nướng mùa rẫy mới / thơm thịt da người thuở chớm yêu… khi Kyong-bin xoay người hôn lên môi ông thì hồn vía ông hoàn toàn bay bổng. Nhưng ông không bay một mình, ông ôm Kyong-bin bay ra hướng sông, lượn một vòng quanh đảo Hamilton, mở rộng dần lên đập Bonneville, lên Cascade Locks rồi lao vút lên những đám mây xa mờ ở cuối chân trời của dãy núi Cascades.”

Theo tôi đây là đoạn tả phút giây đôi lứa rất đẹp và gây hiệu ứng cao nơi lòng người đọc. Hoà quyện tình yêu con người và tình yêu thiên nhiên. Nhờ vậy mà vòng ôm, nụ hôn trắng trong như mây. Cảm xúc của ngũ quan thăng hoa khiến cảm thấy thân thể người yêu là một Tinh Thể Quí Giá, cũng giống như trong Hoa Trâm Trâm, từ giấc ngủ say mê trong lòng người yêu lại được lọt vào trong êm ả Lòng Mẹ. Tình Yêu và Cảm Giác của một chàng trai lớp đệ ngũ đến người đàn ông câu cá này, không khác nhau mấy về cái trong sáng diệu thường, có lẽ chỉ được phát sinh từ tình cảm chân thực. Nếu quí vị phụ nữ biết được những tình cảm trân trọng này, thì họ quả là hạnh phúc và sẽ sống sẽ yêu, đúng như là họ được phía bên kia cảm thấy. Chắc chắn thế.

Trong Lá Daffodil Thắt Bím, tôi bị dẫn hoặc bởi màu sắc mà nhà văn tả khu rừng

“...không gian thì như chìm đắm trong mộng ảo. Nắng trưa mà sao xiên xiên xuyên qua lớp sương mù đọng giữa những tàng cây, một màu nắng huyền hoặc, không vàng không thắm cũng không trắng không hồng, một màu nắng phơn phớt tím hoa cà liên tục chuyển động, lung linh kỳ ảo lạ thường… (trang 14 LDTB)

… bỗng ông Tân đâm hoảng, tấm thân đồ sộ chắc nịch của Barbara trong vòng tay ông như tan chảy… khi Barbara cứng cáp trở lại thì ông Tân bắt đầu chìm vào cơn mê, ông khởi sự thăm dò những trái chín cuối mùa của xứ sở Hoa Kỳ… Quả đất như ngừng quay… trong mê đắm hai người há hốc miệng như đang ăn sương giá, như đang uống nắng trời. Ông Tân mơ màng như đã uống vào người cái màu nắng trùng với màu mắt của Barbara, màu mắt huyền thoại phơn phớt tím hoa cà…” (trang 16-17 LDTB)

Bạn đế ý xem, những cảnh tả chân há hốc miệng, tấm thân đồ sộ… có đối chỏi với cái khí thơ mộng trong cảnh này không? Tôi thì thấy nó như một  mỉm cười duyên trong dẫn chuyện. Há hốc miệng như đang ăn sương giá, uống nắng trời thì quả là nâng một hình ảnh chân chất người lên mức của nên thơ. Cái tài tình giữa hóm hỉnh và dịu dàng, vi tế.

Và cũng không khác chút nào, tâm hồn trong vắt của ba nhân vật, chàng trai trẻ, người đàn ông câu cá, người làm vườn tuổi về chiều, trước sức mạnh mãnh liệt của tình yêu, họ thăng hoa một cách đáng ngạc nhiên và rất thơ để thấy lòng người yêu như lòng mẹ, ôm người yêu như ôm một Tinh Thể Quí Giá, uống màu mắt huyền thoại phơn phớt tím hoa cà. Đó là tặng phẩm đẹp nhất mà người đàn ông dành cho người yêu mình. Tặng phẩm mà bất cứ phụ nữ nào cũng hãnh diện khi được trao tặng.

Còn một truyện nữa trong tập này mà tôi cũng rất thích, Mũi Tên, câu truyện đầy ẩn dụ của luật Nhân Quả, mà dường như trong bài giới thiệu của Nhà văn Trần Hoài Thư, bài viết của Nhà Thơ Nguyễn Lương Vỵ đã nói rất đầy đủ và rất hay, nếu có nói thêm thì tôi chỉ muốn trích một đoạn rất cảm động, không dính gì tới chủ đề của câu truyện, tôi thích vì có chút tình cảm chủ quan của hoàn cảnh tôi, …mà huyền diệu thay, trong những giây phút đen tối nhất ở phòng cấp cứu, khi Nancy còn hôn mê, anh đã cảm ứng được hương thơm từ linh hồn nàng để vẫn nuôi niềm hy vọng… (trang 37)

Tôi muốn nhấn mạnh đến ý hương thơm từ linh hồn nàng, một sợi chỉ suyên suốt của tâm hồn nhạy cảm, tình yêu thẳm sâu, lòng quí thương trân trọng của tác giả, phản chiếu qua ba hình ảnh của ba nhân vật tôi đã nêu trên.
Và,

“…nếu thật lòng yêu nhau và dám hy sinh cho nhau thì ở bất cứ đâu các cặp đôi đều có thể tạo dựng cuộc sống và mưu cầu hạnh phúc.” Nhớ đến câu nói đó của Nancy và những thách thức với đôi chim non lần đầu tiên khám phá bầu trời, vừa mừng vừa run lo âu khấp khởi, Lou Calakmul bỗng thấy lòng mình tràn ngập lòng yêu thương. Không dằn được, anh bước lên lầu ôm hôn Nancy, một nụ hôn thật sâu trước khi dìu cô khởi đầu bài tập physical therapy… … anh chỉ biết thì thầm bên tai nàng “rồi em sẽ qua khỏi, sẽ trở lại như xưa, tin anh đi, chúng mình ở hiền gặp lành.” Anh tin vào hơi ấm kỳ diệu của tiếng thì thầm và hơi ấm mang sức sống lấp đất vá trời từ đôi bàn tay anh…(trang 35, 36 LDTB)

Buổi chiều đầy nắng vàng khi tôi gấp cuốn sách của Nguyễn Âu Hồng, cùng lúc tôi cảm thấy âm vang rất thiết tha dịu dàng từ những con chữ, như thể những vạt nắng ấy đang rót vào tôi điệu thánh thót nhất của ấm áp. Biết được những tình cảm của người đàn ông dành cho người đàn bà của đời mình, tôi cảm nhận rõ ràng hơn những điều mình có, và dường như trong tôi nghe dội lên những cảm xúc nồng nàn. Tôi cảm nhận sâu sắc một điều từ lâu vẫn ở trong lòng mình mà tôi tưởng nó đã phai nhạt ít nhiều theo sắc thời gian. Tôi biết không chỉ có tôi, mà tất cả những tình nhân trên dương gian này hẳn đều đã cảm thấu được “điều gì đổi thay dưới sức nóng kỳ diệu của tiếng thầm thì?”, ngày đó khi tôi viết câu thơ này tôi đã dùng dấu hỏi, nhưng nay thì tôi bỏ, vì tôi đã khẳng định được, tất cả sẽ đổi thay theo nghĩa tốt đẹp nhất hạnh phúc nhất khi tiếng thì thầm đầy sức nóng của tình yêu đến bên đời…

Xin được cảm ơn những tình cảm đẹp đẽ, và đầy trân trọng của Lá Daffodil Thắt Bím.

nguyễn thị khánh minh
Calif., Tháng 3.2015, mùa hoa daffodil.

Như một lời chúc mừng cho tác phẩm Lộc Trời mới xuất bản của Nhà Văn Nguyễn Âu Hồng.