Monday, June 29, 2015

1809. NGUYỄN XUÂN THIỆP Tản mạn bên tách cà phê CHÉN TRÀ TƯỜNG VI




CHÉN TRÀ TƯỜNG VI

nguyễn xuân thiệp



em hái bông tường vi
trong vườn cây đợi nắng
thoảng hương trà vũ di
từ một câu thơ cổ
nxt

29 tháng 6. 2015. Kỷ niệm 16 năm ngày Lê Uyên Phương từ giã bạn bè ra đi. Hôm nay, nhớ bạn ngồi lật lại những trang viết cũ lòng bồi hồi xúc động.




    Còn nhớ, một lần trả lời phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do, tôi có nói đại ý rằng trà và tường vi sẽ sống mãi với nhân loại. Điều này chắc chẳng có gì sai, và tôi đã nói lên cũng bởi lòng yêu trà và hoa tường vi đấy thôi.

   Và... Một buổi chiều, tưởng tượng ngồi ở ngôi nhà ngói đỏ nhìn ra biển khơi, uống chén trà hương ngát do nữ chủ nhân khoản đãi, có phải tôi đã nghĩ tới một sự kết hợp đầy nghệ thuật của trà và hương hoa tường vi, để thành một tên gọi là trà tường vi. Chung quanh tôi, trong căn phòng lãng mạn đó, có đàn piano, có những bình hoa – và cố nhiên, rất nhiều hoa tường vi… Những bức tranh treo trên tường. ánh hoàng hôn còn sót lại khoảnh khắc rực lên trên chiếc bàn gỗ nâu, rồi tắt trong màu vàng của những nhánh hường. Bỗng nhiên, trong một thoáng ngắn ngủi, dường như tôi chợt nghĩ đến Lê Uyên Phương vừa mới ra đi. Nói là trong một thoáng ngắn ngủi, bởi lúc đó lòng tôi có thể là chưa tịnh - nó như mặt biển ngoài kia dậy những triền sóng tím xanh. Những cảm xúc đến với tôi, cùng với những hình ảnh sáng ngời, lộng lẫy trước mắt - tuy có thật đó mà chỉ e mau biến thành những ảo ảnh phù du.

   Trên là những ghi nhận trong buổi chiều ngày 5 tháng 7. 1999.

   Bây giờ, ngồi ở đây, khi nắng sớm mai reo vui trên những cây hải đào mới nở hoa mùa hè ngoài kia, tôi mới có dịp nghĩ đến bạn, một cách tròn đầy hơn. Với tôi, Lê Uyên Phương và trà với hương hoa tường vi là rất đỗi thân thuộc. Chúng tôi biết nhau đã từ lâu lắm. Thời gian trải dài theo chiều dài của lịch sử đầy biến động vừa qua. Từ cái thời Mây Cao Nguyên, lúc Lê Uyên còn mang tên Cẩm Thúy, hát trên đài phát thanh Đà Lạt, trong chương trình Tiếng Nói Quân Đội do tôi phụ trách. Hát ở quán sách Nhân Văn của tôi và các bạn, trên con dốc dãy phố Duy Tân, đêm ấy có Trịnh Công Sơn, Bửu ý, Đinh Cường và dường như cả Thế Uyên. Đêm ‘Hát Thơ Và Đọc Thơ’ ở quán Lục Huyền Cầm, có Thái Tú Hạp, Lê Văn Ngăn, Hoàng Khởi Phong - Huy Tưởng kẹt ở Nha Trang, không lên kịp để đọc bài Máu Biếc Xanh Và Ngực Tối của anh và nói chuyện về thơ. Thời gian ấy, những ngày xanh xưa ấy là những ngày của trà tường vi mà tôi đã ghi lại trong bài tạp bút Trà Ca đăng ở báo Văn ngày nọ:

... Trong những kỷ niệm về trà tôi còn nhớ được, có những buổi uống trà với Lê Uyên Phương ở quán Lục Huyền Cầm của anh trên Đà Lạt. Trà tường vi. Chẳng là nhà anh có trồng nhiều khóm tường vi nở rộ hoa, anh hái cho vào bình trà để mời bạn quý. Trà tường vi có hương thơm thoang thoảng, uống trong buổi sớm mai nắng lên làm tan sương giá, cũng thú lắm chứ, bạn. Hồi ấy, khoảng năm 1972, chiến tranh tới hồi khốc liệt, nhưng thành phố Đà Lạt vẫn yên tĩnh; tin tức chiến sự chỉ được nghe trên đài phát thanh và đọc thấy trên trang báo. Lê Uyên Phương vừa phổ nhạc xong bài thơ Tôi Muốn Yêu Tôi Muốn Tin Cuộc Đời của tôi và trình diễn thành công ở Viện Đại Học Đà Lạt. Anh cũng bắt tay vào việc soạn nhạc cho những bài thơ về sử của tôi trong tập Sử Ca, Trôi Trên Dòng Bách Việt. Tất cả được đâu chín bài, tới đoạn An Dương Vương mất nước, cùng con gái là Mỵ Châu ruổi ngựa, dừng chân trên đèo Mộ Gịa, chung quanh bóng chiều đỏ quạch bắt đầu tan trên biển sóng xa. Hiện tôi chỉ còn giữ được năm bài nhạc của Phương. Phương đã cho hát thử và thấy được. Chúng tôi vừa uống trà tường vi với nhau vừa bàn tới chuyện đưa Sử Ca lên sân khấu, với một ban hợp xướng lớn và người đọc thơ dẫn chuyện. Hai mươi lăm năm rồi ba mươi năm trôi qua... Những chén trà tường vi của chúng tôi ngày ấy và những trang sử ca vẫn còn hương dư cho tới giờ...

    Vâng. Đúng thế, Lê Uyên Phương ạ. Vẫn còn hương dư, cho dù những đổ vỡ, tàn phai quanh đời. Cũng như âm nhạc của anh vậy. Tôi vẫn nghĩ, một thứ âm nhạc - dẫu là tình ca - mang dấu tích thời đại như tình ca của Lê Uyên Phương, không thể nào bị lãng quên. Trong những âm thanh rã rời ấy, có hơi thở của một đời sống hiện thực, có ái ân cháy bỏng làn da nồng mùi nhục cảm, có hiện sinh với khói thuốc và hương cà phê nâu, có chia ly rỏ máu ở sân ga, phi trường, có vẻ phù du của những đóa quỳ vàng như trong tranh Van Gogh, có cái chết mang vẻ xanh xao của một làn da, và có cả chiến tranh ở những ngọn đồi xa đêm đêm dội về... Đã hết rồi thời của những tình ca tiền chiến kiểu người em sầu mộng, hay những tình khúc học trò có hoa phượng đỏ chở đầy giỏ xe, với áo lụa vàng, màu mực tím, chiều mùa thu lá rụng trong công viên gió vun thành đống, và những chia xa trong hoàng hôn... Tình ca Lê Uyên Phương không hề là một thứ lãng mạn êm ái, ve vuốt tình cảm con người. Nó là một loài hoa, chẳng phải là để đem tin vui, mà là điềm báo của tai ương. Nó để lại vết cháy trong hồn người. Không dễ gì nó chết khô như lá vàng. Mai đây, khi thời đại lưu vong này trôi qua, tôi tin rằng nhạc của Lê Uyên Phương vẫn còn được hát lên ở những quán cà phê, những vỉa hè tụ họp của tuổi trẻ, ở những liên hoan trên các sân trường đại học... Hay trong căn phòng ảo nào đó giữa bạn bè.

    Kể từ những chén trà tường vi ngày ấy, bao nhiêu nước chảy dưới chân cầu... Gặp lại Lê Uyên Phương mùa hè 1996 ở Mỹ, thấy anh vẫn không có gì thay đổi. Anh nói với tôi về một thời đã qua, những ngày còn trên đất nước, mong ngóng, chờ đợi, tìm đường ra đi. Anh kể cho tôi nghe chuyện một cây đàn nào đó của anh, cũng phôi pha, trôi giạt, nghe đâu sang tới Đức, Ý, Thụy Điển. Anh đưa tôi về ngôi nhà của anh ở Long Beach, cho xem cái studio với những máy móc hiện đại của riêng anh. Anh cũng nói tới quán cà phê LUP của anh ở Quận Cam ngày nọ và những đổ vỡ của một mối tình đã có một ouverture thật đẹp và tưởng sẽ dài lâu. Bây giờ tôi đã hiểu - không, không có gì dài lâu. Mọi cái rồi sẽ qua đi, Phương ạ. Còn lại gì, âm vang tiếng hát anh, khi tiếng hát ấy tỏa ra từ một cõi đời hư ảo của những quán cà phê buồn. Một đêm nào như đêm xưa, những chuyến trực thăng tải thương từ chiến trường về, dưới cơn mưa. Một đêm nào như đêm qua, em gục đầu lên vai tôi trong tiếng hát của một người ca sỹ... Một đêm nào như đêm nay sẽ về có tiếng đàn thùng bập bùng như ánh lửa trên đồi gió những ngày đã xa...

    Và trà tường vi của chúng ta... sẽ ở mãi cùng người, và âm nhạc của anh...








1808. NGUYỄN QUANG CHƠN Về lại Việt Nam


Bắc Mỹ An (Đà Nẵng) - Nguồn: http://news.zing.vn



Trưa thứ bảy, 27 June 2015, cùng  Tâm và Dũng ăn cơm nhà anh Lữ Quỳnh. Chị Nhung làm gỏi mực với cơm gà Huế  thật ngon. Anh Quỳnh mời một ly rượu Johnny Walker Black kỷ niệm Trịnh Công Sơn với bạn. Bia và rượu vang. Anh bảo ghế Chơn ngồi anh Cường cũng đã ngồi. Duyên, Mai đến thăm vội vàng cũng ngồi nơi đó...

Ngày về lại Việt Nam sao cứ bâng khuâng. Cảm giác chia tay bao giờ cũng buồn, mặc dầu đã thấy nhớ Việt Nam, biết Tâm đang một mình mong chờ...Trưa thật nóng. Trời như muốn trút một cơn mưa nhưng không mưa được nên gầm gừ, oi bức...

Anh Quỳnh khoe những sketches Chơn vẽ anh. Rồi anh mang ra giấy và hộp sáp màu. Có lẽ anh muốn vẽ. Nhìn chị Nhung hiền hoà. Mình xin vẽ một bức chia tay, kỷ niệm...
Mồ hôi rịn trên trán. Tay run run. Ký họa xong chị Nhung chợt thấy mệt. Cái mệt "hết pin", từ của anh Đinh Cường khi anh vẽ quá nhiều. Còn mình có lẽ mấy ngày liên tục bạn bè, con cái thức khuya, uống rượu, lại tập trung tinh thần sketch nên..."hết pin", rã rời. Bức vẽ được anh chị và các con khen. Mừng dễ sợ. Bức cuối cùng trong chuyến Mỹ du!


Rồi về đóng hành lý. Bức tranh quá khổ CÔ GÁI MIỀN ĐỒI NÚI của họa sĩ ĐC phải nhờ Fedex đóng gói cho chắc ăn, rồi sẽ gởi hành lý theo về. Còn một chiều và tối với Dũng, Như nên mấy cha con loanh quanh trò chuyện và lai rai chờ đến giờ lên phi trường. Bức tranh Đinh Cường sau khi đóng gọi lại thêm quá khổ nên phải mượn chiếc van của Khôi mới chất đủ hàng và người...

Chia tay ba, Dũng Như về rồi, một mình trong phòng đợi mới thấy mệt và cảm giác như vừa đánh mất một cái gì...

Nhớ những ngày rong chơi hồn nhiên, ấm áp tình người với con cái, bạn bè... Nhớ những khuôn mặt, vòng tay..., những nụ cười, ánh mắt thân thương, những ly bia nghĩa tình, những bài thơ trân quí, những bức họa nhớ thương..., chợt thấy buồn, dẫu biết bên kia bờ đại dương cũng có những  người đang mong ngóng... Mở máy, nhận được nhiều email gởi đến chia sẻ tình cảm ngày chia tay làm mình cảm động...

Chuyến bay dài như nó vốn có. San Francisco-Taipei- Sài gòn- Đà Nẵng. Thời gian bay gần 24 tiếng đồng hồ. Rã rời. Bước ra khỏi máy bay, cảm nhận một không khí quen thuộc với cái nóng ẩm ướt buộc phải tuôn mồ hôi và những con người chung quanh luôn tạo cho ta cảm giác bất an...

Tâm đã khỏe nhưng suốt hai mấy ngày qua vẫn không dám lái xe máy ra đường. Trời Đà Nẵng vẫn hun nóng không gian giữa hè. Bước vô nhà đã 3:00 chiều tức  01 giờ khuya ở Cali. Đồng hồ sinh học réo, làm đầu mình ong ong, hai mắt ríu lại. Làm đủ việc linh tinh để chống lại cái buồn ngủ. Ráng đến 6:30 cũng không chịu nỗi. Thiếp đi một giấc ngon lành. Thức giấc 01:00 am VN. Lại loay hoay trăn trở trên giường. Lại nhớ những hình ảnh, câu chuyện của hơn 20 ngày phiêu du. San Jose. San Fran. Orange County. Virginia..., những khuôn mặt thân thương, những gặp gỡ nghĩa tình...

Nên loay hoay typing. Viết như một lời cảm tạ gởi cho những tình thân. Bên ấy chừ đã về chiều. Dũng, Tùng, Mai, Khôi đi làm sắp về. Duyên chắc đang mơ những con đường. Anh Lữ Quỳnh đi bộ quanh nhà với chị. Anh Đinh Cường đang chờ nghe tiếng còi tàu giục gọi. Anh Phạm Cao Hoàng đang sắp xếp lại trang thơ. Chiều bên ấy lạnh và buồn...

Các anh chị có nhớ một người đang bị lệch giờ, giữa khuya  đang nhớ mọi người?


Nguyễn Quang Chơn
Đà Nẵng, 30.6.15


Sunday, June 28, 2015

1807. Thơ ĐINH CƯỜNG Một ngày Chủ Nhật vui



Ảnh PCH - June 2015



Có đường phố nào vui
cho ta qua một ngày
( Trịnh Công Sơn )


Cuối tuần quán xá cho vui
nhớ Paris quán lề đường suốt đêm
ở đâu cũng có bạn bè
sáng Chủ Nhật. Phùng Nguyễn lái xe
từ Maryland qua đón đi ăn sáng
trên xe có Nguyễn Mạnh Hùng
mới đi giang hồ thành xưa
quách cổ bên Anh về
Nguyễn Quang cũng vừa về từ New York
quán xá, quán xá... lề đường
Paris - London -  New York …

sáng nay lại gặp nhau Starbucks
restaurant 102- Chantilly
ăn sáng xế trưa
có cả Nguyễn Thế Toàn từ Springfield
lái xe lên. Phạm Cao Hoàng. nhà gần ghé qua
gặp nhau đông đủ. người thi sĩ vẫn thầm lặng.

giờ này Nguyễn Quang Chơn
đã về tới sân bay Tân Sơn Nhất chưa?
Lữ Quỳnh đang ngồi bên đồi San Jose nhớ bạn
giờ này Tùng và Duyên ở Michigan gió lộng
ở đâu cũng có ít bạn bè quý hiếm

thỉnh thoảng gặp thăm nhau
là Niềm Vui Hạnh Phúc
như sáng Chủ Nhật ngày hôm nay
cám ơn đi trên xe Phùng Nguyễn
về trên xe Nguyễn Thế Toàn
bao giờ cùng nhau gặp lại

và nhớ người bạn hiền tài hoa Ngô Thế Vinh
ở Long Beach gió biển mát
luôn điện thoại thăm hỏi bạn bè trên này
cuối tuần có gặp nhau?

Chúng tôi vừa gặp nhau sáng nay .

Virginia , June  28, 2015
Đinh Cường


Phùng Nguyễn  Nguyễn Quang  Nguyễn Mạnh Hùng  
Nguyễn Thế Toàn  Đinh Cường  Phạm Cao Hoàng
Chantilly (VA) - June 28, 2015



1806. TRẦN HOÀI THƯ Ngày làm xong Thư Quán Bản Thảo số 65




NGÀY LÀM XONG
THƯ QUÁN BẢN THẢO
SỐ 65


Trần Hoài Thư




1.

Theo thường lệ ba tháng ra một tập Thư Quán Bản Thảo nhưng lần này Thư Quán Bản Thảo số 65  xem như đã hoàn thành trước dự trù một tháng với chủ đề TƯỞNG NIỆM NHÀ VĂN HOAG2 NGỌC HIỂN và dành nhiều trang giới thiệu tạp chí Thời Tập – một pháo đài cuối cùng của 20 năm văn học Miền Nam.

Làm xong số báo này lòng tôi an ổn lạ thường. Tôi đã nói dùm anh, dùm tôi, dùm tất cả những người thuộc hàng ngũ những cây bút trẻ trong chiến tranh. Họ chỉ có khoảng 10 năm ngắn ngủi để viết, nhưng, như Viên Linh cho biết, chính họ đã giúp cho tạp chí Thời Tập do ông chủ trương sống được và càng lúc càng vững qua bài viết của ông “sau 16 số báo” trên Thời Tập vào cuối năm 1974:

Từ đó, tôi nghĩ được điều này: trước khi làm một việc gì, hãy đi hỏi ý những người trẻ tuổi như anh.”

Nhận định của Viên Linh giúp chúng ta càng hiểu vị thế quan trọng  của lớp người trẻ  trong việc bồi dựng tạp chí Thời Tập nói riêng và sinh họat văn học nghệ thuật Miền Nam nói chung.

Nhà thơ Viên Linh  chê trách  những người mà ông đề cập là chủ bại, làm cản đường những người bút trẻ:. “Chính những người nhiều tuổi nghề nhất lại là những người bi quan chủ bại nhất. Và chính đó là những người – trên một khía cạnh nào đó – đã góp sự có mặt của họ trong số những kẻ đã vô tình cản đường anh em cầm bút trẻ tuổi”.

Một lần nữa, ông xác nhận về sự có mặt của đội ngũ trẻ chúng tôi như sau:

“(Họ…) có mặt từ vài năm trước trên các diễn đàn văn học, cho tới ngày hôm nay, một số những người bút trẻ tuổi của chúng ta đã xác định được sự có mặt ấy, tuy không rầm rộ, nhưng rõ ràng là đều đặn và thường xuyên, là còn đều đặn và thường xuyên hơn nữa, như nắng phải lên lúc hừng đông, mưa sẽ đổ đúng mùa dù cho hừng đông kia và mùa mưa này chưa biết hứa hẹn gì cho một thời của văn chương Miền Nam mưa hay nắng.
Không tuyên ngôn, việc ấy đã rõ – nhưng có điều này: cầm bút, chuyện bình thường, cầm bút viết, không có sứ mệnh gì cả, nhưng viết, và viết, và làm việc, không có gì để đập phá ngoài bản thân mình, không có gì để hô hào canh tân ngoài con tim và bộ óc mình…”

Lá thư tòa sọan này được viết vào cuối năm 1974. Nhà thơ Viên Linh vẫn chưa biết tương lai văn chương Miền Nam mưa hay nắng, hứa hẹn gì cho lớp trẻ mà ông đề cập. Ông làm sao biết chỉ 4 tháng sau là cả Miền Nam bị mất, không phải mưa hay nắng như ông nghĩ, trái lại là một trận đại hồng thủy quét sạch, cuốn sạch cả một nền văn học Miền Nam không phân biệt già hay trẻ, nam hay nữ.

Để rồi đa số những người viết trẻ  – lúc ngòi viết của họ trong thời kỳ sung mãn nhất – thì họ  đành phải vất bút, tẩu tán chữ nghĩa sách vở bản thảo của mình.

Chỉ có một số ít là lộ nguyên hình như Ngụy Ngữ – người khách chót của Thời Tập là cán bộ CS. Còn lại, hầu hết vào tù, mang thân trâu ngựa hay may mắn chạy được ra nước ngoài.

Thư Quán Bản Thảo số này đã chứng minh “điều kiện ắt có và đủ” cho nền văn học miền Nam là như vậy đó. Trong lúc chiến tranh cao điểm, trong lúc đường sá lưu thông ra ngoài trung – miền đất cần yếu để tiêu thụ sách báo – bị cắt đứt, gián đọan, nhà phát hành từ chối nhận phát hành, thì Thời Tập vẫn tiếp tục ”đường ta ta đi, nhà ta ta xây, ruộng ta ta  cày” trong năm 1973, 1974 và 4 tháng  đầu 1975…. Đó là sự góp mặt. góp sức của lớp trẻ, người trẻ, đội ngũ cây bút trẻ như Viên Linh đã ghi nhận.

Vậy mà thiên hạ cứ nhìn vào mấy cái váy hay những cây bút hì hục đêm ngày viết feuilleton để hái tiền, hốt bạc để xưng tụng họ là đại diện văn chương Miền Nam, là văn học đô thị, trong khi một nhà thơ được xưng tụng trọng nễ như VIên Linh lại xem là “tầm phào”:

Tôi vừa ra uống với người bạn ở Tuy Hòa vào. Trong khi uống chúng tôi nói  chuyện vui vẻ. Và trong một lúc im lặng, tôi làm được mấy câu thơ. Để tôi viết ra anh coi. Có điều, đây là mấy câu thơ tầm phào, nó không phải văn chương đâu. Nó là thơ tầm phào:

Trong tôi có cái gì thừa
Cái gì lại thiếu, cái vừa như in?
Trong tôi có cái ưa chìm
Cái gì lại nổi mà tìm không ra?


Thơ này thế nào cũng có kẻ kêu là không hiểu, để tôi làm tiếp

Ngó vào Trời Đất bao la
Trước gương lộn cổ hồn ma vú dài


Đó, tôi đã bảo, là thơ tầm phào mà. Văn chương chó gì khi mình nói chuyện linh tinh sau vài ly la de suông. Gọi nó là văn chương chỉ có mấy anh đã chết… (Khởi Hành số 156)


2.

Có người bảo Trần Hoài Thư là nhà văn/người lính chưa chịu giải ngũ.

Ham gì binh nghiệp để mà chịu hay không chịu. Ham gì cả một thời thanh xuân bị lịch sử bầm dập tơi tả. Nhưng làm sao có thể quên được một đêm trăng với chiếu rượu như thế này:

Nửa đêm, như thể ngày xưa ấy
Mấy thằng trải chiếu dưới đêm trăng
Trăng sáng phơi trên hàng  kẽm lạnh
Rồi chảy vào bát rượu bâng khuâng

Nửa đêm, mấy đứa chưa buồn ngủ
Buồn ngủ làm sao, ta chiêm bao
Lính trận dưỡng quân, nhờ tí  tửu
Để mai nằm xuống hồn bay cao

Nửa đêm, doanh trại đèn leo lét
Người lính canh ngồi như tượng đêm
Ma quỷ muốn chơi, xin hoãn chiến
Để ta còn đụng với anh em


Làm sao có thể quên được hình ảnh của viên đại đội trưởng đại đội 399 vào ngày 30-4-1975 mà  nhà văn Hoàng Ngọc Hiển đã ghi lại trong truyện “Ngã Ba Rừng Cần Lê”:

“…Tôi theo dõi bước đi của Đại úy Đại Đội Trưởng 399, ông vẫn mặc bộ đồ tác chiến, trên cổ khăn quàng đen bay bay theo gió nhẹ. Tay cầm khẩu M16 mũi hơi chúc xuống mặt đất. Ông bước qua Quốc Lộ Mười Ba, sang phía bên kia. Ông theo con lộ nhỏ vào xóm Cần Lê. Ông đi qua xóm, con đường đất đỏ dẫn xuống Suối Đá Trắng. Rồi tôi không thấy bóng ông nữa, chỉ thấy một đám bụi đỏ bốc lên như đang ở trong một cơn gió xoáy. Chừng nửa giờ sau, tôi nghe nhiềụ tiếng súng nổ ở phía Suối Đá Trắng vọng về đồn Cần Lê. Tôi biết điều gì đã xảy ra. Tôi đứng lặng người đi, như trong một phút mặc niệm một chiến hữu đã hy sinh cho tổ quốc.”

Nhớ đâu phải là thích. Xin vui lòng phân biệt dùm cho.


3.

Tôi đã làm xong một số báo dày 280 trang, tự mình in lấy, cắt xén, layout, trình bày bìa, sưu tập bài vở, đọc và viết, giữa lúc ban ngày phải túc trực thường xuyên tại nursing home để chăm sóc người bạn đời. Tôi chỉ làm nó vào đêm hôm khuya khoắc, một mình trong căn nhà trống vắng lê thê.  Xin đừng choàng vòng hoa cho tôi. Tôi đang khóc. Ôm mặt mà khóc. Khi phải bỏ  vất không nương tay tất cả đồ đạc, giấy bút, hay những chồng thư  khen ngợi Trần Hoài Thư  của độc giả mà Y. đã ra công gìn giữ, mong một ngày Y. sẽ lựa lọc và in thành sách. Tôi đã vất chúng  vào thùng rác, không đắn đo, không thương tiếc. Bởi tôi có giữ thì cũng chẳng ích lợi gì. Số phần chúng tôi xem như ở mạt lộ rồi. Còn gì nữa để mà gìn giữ cơ chứ?

Nhưng mà khi nhận ra những chiếc hoa tai của Y. văng ra trên sàn nhà. tôi không cầm được nước mắt. Tôi khóc như đứa con nít. Trời ơi, đọan kết chưa phải đến với tôi, sao lại trở thành bi kịch như thế này. Hở trời?

Suốt cả tháng  nay túc trực bên giường Y. tôi ngồi như một kẻ tội đồ. Nursing home là một địa ngục. Sáng chiều và tối nổi lên những tiếng la, tiếng thét, tiếng kêu, tiếng khóc… Hầu hết những người vào đây, là những người mà con cái hay người thân tìm cách tống, vì họ không thể  chăm sóc. Họ nhờ nursing home thay họ chăm sóc dùm. Và  hầu như những người vào đều đợi cửa mồ mở ra khi nào không biết. Đa số không còn sáng suốt. Có người cứ vài giây lại la. Tiếng la cứ tiếp tục ngày và đêm chăng ai buồn để ý. Có cụ thì suốt ngày ngồi trên xe lăn, nhìn ra cửa, không nói năng. Có cụ cứ la help help hoài…. Cả một dãy hành lang như vang lên những lời gọi hồn cho những kiếp đời sắp kết cuộc. Chỉ tội cho những người còn tỉnh trí. Như Y. Như tôi. Tôi vào đây vì Y. Và Y. vào đây vì tôi không còn cách gì khác.

Vì vậy, giờ chỉ muốn tìm quên. CHỉ có Thư Quán Bản Thảo mới giúp tôi quên. Quên. Quên hết.

Trần Hoài Thư
June 28, 2015


Saturday, June 27, 2015

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI: THƯ QUÁN BẢN THẢO SỐ 65 - TRUYỆN TRẦN HOÀI THƯ - TẬP TẢN VĂN THEO DẤU NHÀ THƠ CỦA VÕ CHÂN CỬU



GIỚI THIỆU SÁCH MỚI




THƯ QUÁN BẢN THẢO
SỐ 65 – THÁNG 7.2015




Chủ đề:

TƯỞNG NIỆM
NHÀ VĂN HOÀNG NGỌC HIỂN (1942-2014)

Muốn có số báo này, bạn đọc liên lạc về địa chỉ:




  
TRUYỆN TRẦN HOÀI THƯ


Gồm những truyện ngắn đã đăng
trên các tạp chí tại Sài Gòn trước 1975:
Văn Học, Khởi Hành, Thời Tập,
Trình Bày, Nghiên Cứu Văn Học, Ý Thức

Nhà xuất bản Thư Ấn Quán 2015






THEO DẤU NHÀ THƠ


Tập tản văn của Võ Chân Cửu
viết về các nhà thơ miền nam trước và sau 1975
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2015





1805. Thơ ĐINH CƯỜNG Chiều mưa ngồi một mình ở Starbucks nghe tiếng còi tàu hụ ngang qua




ĐINH CƯỜNG
Chiều mưa ngồi một mình ở Starbucks
nghe tiếng còi tàu hụ ngang qua


Nhớ ngày tàu cũng đi luôn
Ga thôn trơ nỗi băng nguồn héo hon
( Cung Trầm Tưởng )


Những ngày bè bạn gần xa
về đây thoáng chốc. la đà cùng nhau
 
chiều nay Chơn trở lại nhà
tầng tầng mây trắng cánh đồng trên cao

nhớ chi không đã cùng Quỳnh
ngồi chờ mấy tiếng đổi tàu. Minnesota

đêm khuya cũng tới Virginia
đêm khuya cũng gặp Tùng Duyên muộn màng

sáng sương mai gặp hai chàng
sáng suơng mai thôi về Starbucks ngồi …

chiều nay tôi lại mình tôi
bỗng nhiên mà nhớ Duyên ơi. chuyến tàu

Duyên hay đi. và chụp hình mờ xa
tôi mơ trăng nước bao la

một ngày nào đó chúng ta giang hồ
nửa chiều.  tàu hụ ngang qua …


Virginia, June 27, 2015

Đinh Cường 




1804. NGUYỄN XUÂN THIỆP Sài Gòn. Nơi tôi đã vui chơi và nhỏ lệ




SÀI GÒN. NƠI TÔI ĐÃ
VUI CHƠI VÀ NHỎ LỆ

nguyễn xuân thiệp



Đó là tên tuyển tập thơ, truyện ngắn và tạp bút của Nguyễn Quang Hiện Phố Văn xuất bản trong tháng 6 này. Nguyễn và anh em sẽ cóđôi lời giới thiệu tác phẩm sau. Bây giờ, trên trang văn hồi tưởng, người viết chỉ xin tạm mượn cụm từ rất gợi hình và gây xúc động Sài Gòn. Nơi Tôi Đã Vui Chơi Và Nhỏ Lệ để nói về những năm tháng đáng ghi nhớ của riêng mình nơi thành phố ấy trước khi rời đi và mất hẳn dấu tích.
   
Sài Gòn. Ôi tôi đã yêu thành phố ấy biết bao! Còn nhớ khi bắt đầu làm báo Phố Văn, ngay ở số đầu tiên ra vào tháng 8 năm 2000, Nguyễn đã mời anh em viết mỗi người một đoạn cho chủ đề “Sài Gòn. Đóa Quỳ Vàng Trong Trí Nhớ”. Nhiều người đã tham gia –trong đó có Lâm Chương, Nguyễn Thị Thảo An, Hoàng Xuân Sơn, Lê Uyên… Rồi sau đó, hầu như mỗi kỳ trong suốt 8 năm dưới tiêu đề “Yêu Mãi Sài Gòn” đều có bài viết về nơi dấu yêu của mình và anh em. Tiếp nữa, trong nhiều bài tản mạn hễ có dịp đều nhắc tới Sài Gòn: Em Có Tìm Anh Trên Những Hàng Cây, Góc Phố Hẹn Hò & Hương Cây Kỷ Niệm, Đêm Nhớ Về Sài Gòn… Gần đây khi nghe tin những cây xanh trước Nhà Hát Lớn Thành Phố bị đốn hạ, mình đã viết bài tạp văn Khóc Những Hàng Cây.
     
Ôi Sài Gòn mãi mãi là nỗi nhớ không tên. Lần đầu tiên tôi đến Sài Gòn là vào năm 1957. Mới đó mà nửa thế kỷ đã trôi qua. Ngày ấy tóc mình còn xanh, vừa mới đỗ Tú Tài, cùng với hai bạn là Phan Ngọc Lâm (hiện là luật sư ở Seattle) và Phan Thanh Thư (chủ nhà in ở Maryland) leo lên xe lửa xuôi Nam. Hồi đó ở Huế chưa có Đại học nên cả bọn phải vào Sài Gòn. Chuyến đi dài tới mươi ngày, ghé Bồng Sơn Quy Nhơn, Quảng Ngãi rồi Nha Trang -mỗi nơi ở lại đôi ba ngày. Vào tới Sài Gòn, không tên nào biết đường sá cả. Xuống xe lửa ở Ga trên đường Lê Lai gần Bùng Binh, hỏi thăm tìm tới tiệm sách bên kia chợ Bến Thành mua một tấm bản đồ Sài Gòn. Ôi, thật là dễ dàng -cứ theo bản đồ mà đi. Thì ra, nhà anh chị của Phan Thanh Thư ở ngay  phía bên kia, gần sát Tour d’Ivoire, đầu đường Trần Hưng Đạo. Cả bọn kéo lên đó uống nước, nghỉ ngơi. Một lát sau, Phan Thanh Tâm, em của Thư đưa mình về nhà chú thím Lữ ở xóm Nguyễn Ngọc Sương ngay ngã tư Phú Nhuận. Còn Phan Ngọc Lâm thuê taxi về Cư Xá Công Binh, nhà của người bà con xa.
     
Hồi ấy, những ngày đầu tiên tới Sài Gòn thấy cái gì cũng lạ, cũng đẹp, cũng ngon. Phố xá to lớn, sầm uất, người đông đúc, thân tình, cởi mở. Mê từ ly nước mía Viễn Đông, kem Mai Hương, tô phở ở hẻm Pasteur, tiệm sách Khai Trí, con đường Catinat, cà phê La Pagode… Nhiều lắm… Sáng nắng, chiều mưa, khuya tiếng nhạc từ các phòng trà. Nơi Nguyễn ở trọ gần nhà bạn Hồ Đăng Tín nên bạn thường chở đi trên chiếc vélo solex tới phòng trà Đức Quỳnh ở gần rạp Cao Thắng xem và nghe Thanh Thúy hát. Nguyễn không mê Thanh Thúy nhưng thích nghe hát nên rồi cũng trở thành fan của người đẹp. Ngoài phòng trà Đức Quỳnh, có dạo Nguyễn và Hồ Đăng Tín có thêm Phan Thanh Thư nữa mỗi tối thường tới uống cà phê ở Café Ánh gần rạp Cao Đồng Hưng cạnh chợ Thái Bình. Ở đây, vừa uống cà phê Nguyễn thường ngồi kể chuyện cổ tích cho chị em Ánh nghe. Khi Café Ánh đóng cửa, cô em là Hồng mở riêng một quán trước viện Pasteur khiến nhiều chàng sinh viên Vạn Hạnh bu tới trong đó có nhà thơ Nguyễn Thanh Châu.
    
Những ngày vui chơi ở Sài Gòn lúc còn là sinh viên Luật chỉ có bấy nhiêu. Thỉnh thoảng có thêm đi bát phố, vào các tiệm sách đọc sách cọp, đi ciné. Tới khi đi dạy học, có lương tiền thì những cuộc vui chơi được nâng cấp. Bây giờ cả bọn gồm Phan Ngọc Lâm, Nguyễn Hùng Việt, Bùi Xuân Đính và kẻ này mỗi cuối tuần hay rủ nhau đi bal hoặc đi nhảy ở vũ trường, thường là Arc-en-Ciel, Grand Monde, Laiyung (Lệ Uyển), Mỹ Phụng… Tới lúc này người ta bắt đầu bày đặt trò yêu vũ nữ và đi hút thuốc phiện, may mà sớm thoát mê hồn trận chứ nếu không đâu còn ngồi làm ở báo ở Dallas như bây giờ.
   
Ôi, một thời vui chơi ở Sài Gòn ngày xưa. Sài Gòn của tôi… Đêm qua tình cờ nghe Thanh Lan hát lại Đêm Khuya Trên Đường Catinat của Trần Văn Trạch… lòng càng nhớ càng thương da diết. Ôi, nhớ hắt hiu là nhớ chiều nay nhớ…(Đường Chiều, Hồng Duyệt) Nhớ lại những con đường của một thời trẻ tuổi đã cùng với người yêu đi dạo chơi, những chiếc lá me trên tóc, những bông sứ rụng trên bến Bạch Đằng, những chiếc lá dầu quay tròn trong gió khi đi qua đường Duy Tân… Sài Gòn nơi tôi đã vui chơi cũng là nơi tôi từng nhỏ lệ. Không nhỏ lệ khóc cho mối tình nào mà nhỏ lệ vì sau 1975 đã mất đi một bầu trời với bao điều đẹp đẽ. Không còn những sáng những chiều đầy tiếng cười trên hè phố, những đêm khuya rộn ràng tiếng nhạc trong mùi hương dạ lý thoảng bay.

Ôi. Sài gòn
thành phố của tôi
sao tôi khóc lúc ra đi
phượng đỏ. một lời yêu dấu cũ
là lúc chia xa…


Nguyễn Xuân Thiệp
June 2015