Monday, May 2, 2016

2293. TRÙNG DƯƠNG "The Sympathizer": Trận hoả mù và tuổi trẻ Việt Nam


TRÙNG DƯƠNG
"The Sympathizer":
Trận hoả mù và tuổi trẻ Việt Nam


Tác giả Nguyễn Thanh Việt và cuốn tiểu thuyết "The Sympathizer" 
(Ảnh Google/Images)



Vào giữa tháng Tư năm thứ 41 kỷ niệm ngày 30 tháng 4, 1975 cộng đồng Việt hải ngoại, đặc biệt tại Mỹ, nhận được một ngạc nhiên vô cùng thích thú, nếu không là ngoài sức tưởng tượng của bất cứ ai. Đó là tin cuốn tiểu thuyết "The Sympathizer" (Cảm Tình Viên) của Việt Thanh Nguyễn, một người trẻ Việt thuộc thế hệ 1.5 hiện là giáo sư chuyên ngành văn học và sắc tộc tại  trường Đại học University of Southern California, được giải thưởng Pulitzer về văn chương.
Giải Pulitzer, năm nay vừa tròn 100 tuổi, là một trong những giải thưởng văn học danh giá nhất của Hoa Kỳ, có thể nói đây là một giấc mơ của bất cứ người cầm bút  nào, và đã từng được trao tặng cho những tác phẩm nổi tiếng của Mỹ, như "Gone With The Wind" của Margaret Mitchell, "The Old Man and the Sea" của Ernest Hemmingway, và "To Kill A Mockingbird" của Harper Lee. Giải Pulitzer, do ông Joseph Pulitzer, một nhà báo gốc Hungary sáng lập vào năm 1917, thoạt đầu dành cho báo chí sau mở rộng ra bao gồm cả các bộ môn văn chương, kịch nghệ và âm nhạc. Về ba bộ môn sau tác giả phải có quốc tịch Hoa kỳ. Riêng bộ môn báo chí, tác giả có thể là người ngoại quốc nhưng tác phẩm đọat giải phải đã xuất hiện trên các cơ quan truyền thông Mỹ. Năm 1973, Huỳnh Công Út, phóng viên nhiếp ảnh người Việt đầu tiên được giải Pulitzer về nhiếp ảnh phóng sự (spot news photography), với tấm ảnh "Cô bé Napalm."

Vào tháng Tư năm ngoái khi cuốn tiểu thuyết "The Sympathizer" chào đời, do nhà Grove Press ở New York xuất bản lần đầu, một vài người bạn tôi sau khi đọc vài trang hay chương đầu, điện thư, giọng như có vẻ nhớn nhác nữa, hỏi tôi, thế là thế nào, có phải nhân vật ấy nhân vật nọ là ông này ông kia trong cộng đồng người Việt. Có chị bạn không có thì giờ đọc song muốn biết cốt chuyện, khi nghe tôi vừa bắt đầu kể đây là cuốn truyện về một tên gián điệp Việt Cộng nằm vùng, chị bật lên câu hỏi ngắt ngang lời tôi, thế anh ta sau có… hồi chánh không.
Các bạn tôi hoang mang phần lớn vì cuốn truyện vốn lấy góc nhìn (point of view) của một gã Việt Cộng nằm vùng từ trước 1975 ở Miền Nam và cả trong cộng đồng người Việt tại Mỹ vào thời điểm giữa thập niên 1980. Tôi không trách được họ, vì chính bản thân tôi cũng hơi bị "choáng váng" ở vài trang đầu. Nhưng vì hiếu kỳ, và cũng vì đã đọc một số nhận định phần lớn là ca ngợi của một số nhà điểm sách của những tờ báo lớn của Mỹ, nên tôi đọc tới, rồi dần bị lôi cuốn bởi văn phong duyên dáng, tài kể chuyện, có khi rí rỏm, có lúc châm biếm, và khả năng xây dựng nhân vật linh động, dàn dựng cốt chuyện chặt chẽ của tác giả.
"The Sympathizer" mở đầu trong bối cảnh sôi động cùng cực của Miền Nam vào những ngày  tháng Tư năm 1975, qua nhãn quan của nhân vật xưng tôi, từ đầu tới cuối không có tên và cả tuổi, như phần lớn những nhân vật khác trong truyện. Tuy nhiên, dài theo chuyện kể thì ta có thể biết Cảm Tình Viên (CTV) có lẽ vào khoảng trên dưới 30 vào lúc Miền Nam sắp tan hàng, là một người con lai Pháp, con vô thừa nhận của một vị linh mục người Pháp và một phụ nữ giúp việc nhà người Việt, lúc nhỏ thường bị đối xử một cách kỳ thị bất công như hầu hết những đứa trẻ hai giòng máu sinh ra ở Việt Nam. Tuy vậy, anh ta cũng được vị linh mục cho theo học trường của ông, và với sự khuyến khích của bà mẹ ít học, anh ta học hành giỏi, và đã được học bổng đi du học tại Mỹ, trong vùng San Francisco.
Trong thời gian du học này anh ta được móc nối làm việc cho phía cộng sản. Khi về nước (Miền Nam), anh ta nhập ngũ và trở thành một đại úy trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà, là một thuộc hạ rất được tín cậy của một Ông Tướng, đến độ anh ta được Ông Tướng cho một phòng riêng trong dãy nhà ngang ở sau biệt thự của gia đình ông. Từ vị trí cánh tay mặt thân tín của Ông Tướng, được giao phó việc thiết lập danh sách di tản, CTV có dịp tiếp xúc và quan sát những nhũng lạm của một số tướng tá vào những ngày cuối cùng của Miền Nam.
Trong khi đó anh ta vẫn tiếp tục làm gián điệp cho Miền Bắc. Người mà anh có phần vụ báo cáo các tin tức thu lượm được của phía Ông Tướng là một trong hai người anh em đã cùng cắt máu ăn thề kết nghĩa trọn đời bảo bọc cho nhau, trong truyện có tên là Man, một cán bộ VC nằm vùng. Người anh em kết nghĩa kia có tên Bon, là một sĩ quan trong quân lực VNCH. Bon là người duy nhất trong ba anh em kết nghĩa này không biết hai người kia cùng là VC nằm vùng.
"Tôi là một tên gián điệp, một gã nằm vùng, một bóng ma, một người với hai mặt," cuốn truyện mở đầu. "Có lẽ cũng không đáng ngạc nhiên là tôi cũng còn là người mang hai bộ óc. Tôi không phải là một thứ biến thái nhìn lầm từ một cuốn sách hí hoạ hay cuốn phim kinh dị nào, mặc dù có vài người đã đối xử với tôi như [thể tôi là mấy thứ đó]. Thực ra tôi chỉ là người có khả năng nhìn bất cứ sự việc gì từ hai phía." (Nguyen, Viet Thanh, 2015-04-02. The Sympathizer: A Novel, Kindle Locations 29-31. Grove/Atlantic, Inc.. Kindle Edition.)
Có lẽ cũng chính vì vị trí nhìn mọi sự việc từ hai phía của nhân vật xưng tôi này, nhiều độc giả Việt hải ngoại, những người không chấp nhận cộng sản, đã không cảm thấy gần gũi với người kể chuyện và cả câu chuyện kể. Dài theo 23 chương sách, người kể chuyện cũng như độc giả hầu như không chia sẻ, liên đới, "đan kết" được với nhau. Có lẽ cũng không quá lắm khi một người bạn tôi thốt lên là cuốn truyện "khó nhai," là mình không cảm thấy xúc động ngay cả trước những cảnh di tản vốn nhiều đau thương, hay những phấn đấu cam go để tồn tại của các nhân vật trong thời gian đầu của cuộc sống lưu vong. Giản dị, khi đọc sách, đặc biệt sách văn chương, ta thường đọc bằng tất cả những kinh nghiệm, suy tư và cả định kiến cá nhân, một hành trình rất riêng tư. Chưa kể, tác giả "The Sympathizer" lại xử dụng thể loại văn chương ít ai dùng, nếu không nói là ngoại lệ (unconventional), đó là loại phản người hùng (tạm dịch từ "antihero" hay "antiheroine"), mà trong đó nhân vật chính thiếu những giá trị ước lệ của xã hội, như lý tưởng, can trường và đức hạnh, để kéo người đọc nhập vào dòng chuyện và "đứng về phe mình." Loại nhân vật này thường có cá tính đen tối như bất đồng quan điểm, thiếu thành thực, và năng động. Cũng "khó đọc" nữa là về hình thức, tác giả không theo các quy luật thông thường, như không để những ngoặc kép xung quanh những lời đối thoại, khiến nhiều khi phải đọc đi đọc lại một đọan nào đó để biết ai đang nói cái gì. Điều này, theo cái nhìn của tôi, cũng chứa đụng một ẩn ý nào đó về phía tác giả nhằm vẽ lên những tranh tối tranh sáng, thay vì chỉ có trắng đen, của những vấn đề chưa ngã ngũ, còn trong thời kỳ khai triển, còn biến thái qua muôn hình vạn trạng.
Khi Saigon sắp đầu hàng, với tin Bắc quân với xe tăng đã nằm trấn ở các ngả vào thủ đô, nhân vật CTV tính ở lại, vì anh ta nghĩ đất nước đã tới lúc được giải phóng thì anh ta ở lại để tiếp tay xây dựng. Nhưng tổ trưởng Man ra lệnh cho anh ta theo gia đình Ông Tướng di tản để tiếp tục báo cáo mọi việc làm của Ông Tướng ở nước ngoài. Anh ta đành tuân lệnh. Trong chuyến di tản với gia đình Ông Tướng có cả gia đình Bon, gồm vợ và một đứa con trai nhỏ. Trong lúc chạy vào đuôi chiếc phi cơ vận tải quân sự của Mỹ chờ trên phi đạo ở phi trường Tân Sơn Nhất, vợ con của Bon bị đạn lạc chết. Bon trở thành thất trí, sang tới Mỹ chỉ một hai nung nấu ý định trở về VN để trả thù và khôi phục lại đất nưóc.
Sang tới Mỹ, Ông Tướng mở nhà hàng sinh sống, tiếp tục tin dùng CTV và bắt đầu thu thập tàn quân nuôi mộng khôi phục đất nước. CTV tất nhiên báo cáo mọi việc cho Man qua những lá thư gửi sang Pháp cho một "bà cô," tường trình cả những buổi họp nuôi mộng phục quốc sôi sục đầy khí thế trong cộng đồng người Việt hải ngoại mà những người di tản năm 1975 và sau đó có lẽ còn nhớ, đã được tác giả mô tả khá sống động như thể đã từng tham dự, mặc dù lúc ấy tác giả chỉ là một cậu bé con.
Tình cờ, và vì sinh kế, CTV được thu nhận vào làm việc với tư cách cố vấn cho cuốn phim về chiến tranh Việt Nam kiểu "Apocalypse Now" được quay tại Phi Luật Tân, nơi các vai VC phụ diễn được tuyển trong đám thuyền nhân còn ở trong trại tị nạn, nhiều người là những cựu quân nhân trong quân lực VNCH, đóng vì cần tiền và cũng vì thường khi được tuyển đóng phim, nhất là làm phụ diễn (extras), không ai được biết cốt truyện và chiều hướng của nhà làm phim. Qua tiếp xúc với các thuyền nhân, tìm hiểu vì sao họ phải bỏ cửa bỏ nhà bỏ quê hương liều chết vượt biển, CTV bắt đầu chất vấn cái gọi là "lý tưởng cách mạng" mà anh ta theo đuổi lâu nay.
Trở lại Mỹ, CVT được biết Ông Tướng bắt đầu gửi người về chiến khu hoạt động, và một trong những người  tình nguyện về là người anh em kết nghĩa Bon. Sau khi thuyết phục Bon đừng về vì nguy hiểm không xong, CVT cảm thấy, do đã cắt máu ăn thề đùm bọc lẫn nhau, mình phải xin đi theo để che chở cho Bon. Để được Ông Tướng chấp nhận cho về chiến khu, CTV đã tham dự vào vụ ám sát một cựu sĩ quan VNCH mà Ông Tướng tình nghi là "hai mang," và chính tay giết thêm một nhân vật thường viết bài chỉ trích việc làm của nhóm Ông Tướng, để chứng tỏ lòng trung thành với chính nghĩa của mình.
Trong một cuộc đụng độ đâu đó trong rừng ở vùng biên giới Đông Dương, nhóm kháng chiến bị lọt ổ phục kích của quân cộng sản, một số bị giết và những người còn lại bị bắt, trong đó có Bon và CTV. Vì trường hợp đặc biệt khi thú nhận là đã hoạt động cho phe cộng, CTV càng bị tình nghi, bị biệt giam, bị tra tấn, phải viết tới viết lui một bản tự kiểm thảo, với kết quả là một tập giấy dầy tới gần 300 trang. Hành trình này - tự kiểm thảo tới lui, bị biệt giam và tra tấn – đã giúp CTV dần "giác ngộ," để thấy là các đồng chí của mình "[M]ột khi đã giải phóng chúng ta dưới danh xưng độc lập và tự do – sao tôi mệt vô cùng khi nói tới những chữ này! – chúng ta lại cướp đi chính những thứ này từ những người anh em bị bại trận." (Kindle Locations 5497-5498)
Qua sự can thiệp và cả hối lộ viên trưởng trại của tổ trưởng Man (bằng tiền bạc đút lót từ các bà vợ của các tù cải tạo để được thăm nuôi lo cho chồng) tình cờ là bí thư chính trị của trại tù nơi CTV bị giam giữ mà chỉ về sau này mới xuất đầu lộ diện, CVT cuối cùng được phóng thích cùng với Bon, và với cả bản tự kiểm thảo do Man trao lại: đó cũng chính là cuốn "The Sympathizer" mà độc giả đang cầm trên tay. Họ được hướng dẫn tới một trạm giao liên, và chờ ngày lên đường vượt biên.
Tôi phải mất một thời gian để "tiêu hoá" câu chuyện, mặc dù biết đây chỉ là một truyện sáng tác, dù tác giả nhìn nhận trong phần công nhận (Acknowledgments) ở cuối sách, là "[N]hiều sự việc trong cuốn tiểu thuyết thực sự đã diễn ra, mặc dù tôi phải nhìn nhận là đã tùy nghi thay đổi tình tiết và thứ tự thời gian." (Kindle Locations 5594-5595). Tôi có linh cảm về một tầm mức quan trọng của "The Sympathizer" do giá trị văn chương của cuốn truyện, hơn là tính cách chính trị của những vụ việc dù dựa vào sự thực hay có tính cách sáng tạo. Nhưng tin cuốn tiểu thuyết được giải Pulitzer quả là một bất ngờ. Những ghi nhận bên dưới hoàn toàn  là của cá nhân tôi, và đã hẳn không phản ảnh suy tư của tác giả, người mà tôi chưa hề trực diện.
Do giá trị văn chương nổi bật của cuốn truyện – cái sức mạnh không thể chối cãi của một tác phẩm văn chương đã khiến một độc giả đọc mà tưởng như đang đọc chuyện có thật – đã, có lẽ, khiến đài BBC tiếng Việt đặt thành "vấn đề" bằng tựa đề cho một bài tường thuật gần đây, "Người Mỹ 'phải nhìn khác về chiến tranh VN'," như thể đây là cuốn sách biên khảo về chiến tranh VN, chứ không phải là tiểu thuyết (fiction). (*)
Cuộc chiến Việt Nam không chỉ là những bàn cãi chưa ngã ngũ giữa các học giả, sử gia và những người còn quan tâm thuộc thế hệ tôi, những người trên dưới 70, thế hệ người Việt di dân thứ nhất, mà còn là quan tâm của nhiều người trẻ Việt đặc biệt thuộc thế hệ 1.5, như tác giả "The Sympathizer." Là những người trẻ lớn lên trong xã hội Mỹ, thụ huấn một nền giáo dục nhân bản và phóng khoáng, với tất cả những cơ hội phát triển và tiến thân có thể nói vào bậc nhất thế giới, họ tất nhiên không chấp nhận quan điểm của cha anh mình mà ngược lại, họ chất vấn những tin tưởng, giá trị của tiền bối. Trong cuộc hành trình trí thức đó, họ cũng đồng thời không chấp nhận quan điểm về cuộc chiến Việt Nam rất phiến diện của những cuốn sách giáo khoa mà họ phải học khi còn ở trung học, và nhan nhản trong nhiều cuốn sách về chiến tranh Việt Nam vốn ảnh hưởng bởi phong trào phản chiến vốn bị ô nhiễm bởi hệ thống tuyên truyền tinh vi của khối cộng sản vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Thế hệ Việt 1.5 và sau này muốn "nhìn […] sự việc từ hai phía," để từ đó xây dựng một hệ thống giá trị của riêng họ.
Điều nổi bật nhất nơi, nếu không nói là một thứ căn cước của, những người di dân thuộc thế hệ tôi, đã hẳn, là tinh thần  chống cộng. Làm sao không chống cộng được khi mà chủ nghĩa tàn độc này, từ gần một thế kỷ qua, trải dài cả thảy là ba, bốn thế hệ, đã hủy diệt bao nhiêu khát vọng độc lập tự do thật sự để xây dựng đất nước, vun sới tiền đồ của tổ tiên, dân tộc. Đấy là chưa kể con người đã và đang bị tha hoá, không còn phân biệt phải trái, chính tà; và một môi trường thiên nhiên đã không những không được bảo vệ mà còn bị tàn phá vì những lợi nhuận nhỏ bé cá nhân của tầng lớp lãnh đạo từ  trung ương tới địa phương. Điển hình là vụ cá bị nhiễm độc chết trắng một vùng dọc bờ biển miền Trung Việt Nam do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, thuộc tập đoàn Formosa Đài Loan (mà phiá sau cũng là từ Hoa Lục), hoạt động tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh, gây ra và hiện đang gây xôn xao, phẫn nộ trong dư luận cả trong và ngoài nước.
Nói đến tinh thần chống cộng thì ta cũng  phải nhìn nhận là có nhiều thành phần trong cộng đồng hải ngoại đã trở thành chống Cộng hết sức cực đoan, tới độ nhìn đâu cũng thấy VC,  rồi xoay ra tố cáo lẫn nhau, xẩy ra cái cảnh mà một nguời bạn của tôi đã gán cho cái nhãn "quân mình đánh quân ta," tiếp nối một trận hoả mù đã từng diễn ra ở Miền Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh mà nấp phía sau là các đặc công VC mà nhiều người Miền Nam dạo ấy không thấy, có khi ngay cả chính nạn nhân cũng không thấy và không biết luôn. Trường hợp điển hình mà tôi biết đích xác là vụ nhà văn/nhà báo Chu Tử bị ám sát hụt vào giữa năm 1966. Cho tới khi chết -- ông Chu Tử bị tử thương trên chuyến tàu di tản ngày 30 tháng 4, 1975 khi tàu còn trong sông Sài Gòn, nhiều người tin là bị B40 của VC – ông có lẽ vẫn tin là mình bị "người anh em quốc gia" thanh toán. Thực tế, ông bị đặc công Huỳnh Văn Long ám sát, nhưng một người nào đó, có thể là chính Long, được VC dàn dựng là người mưu sát ông tới tìm gặp ông, cho biết là cảm tình viên của Thượng toạ Thích Thiện Minh, thấy thầy mình bị ông Chu Tử chỉ trích, tức khí, đi tìm bắn nhà báo để trả thù, không ngoài chủ trương gây chia rẽ giữa báo chí và tôn giáo.(**)
Kết quả của những vụ "quân mình đánh quân ta" là nhiều người phát chán nản, không muốn dính  vào chuyện cộng đồng. Thậm chí còn gọi cộng đồng Việt, đặc biệt ở vùng Orange County, Nam Cali, là chốn "gió tanh mưa máu." Một số bạn báo chí Việt ngữ của tôi cảm thấy mặc dù mình đang sinh hoạt trong một xã hội mà quyền tự do báo chí được tuyệt đối bảo vệ qua Tu Hiến Pháp Thứ nhất (First Amendment) nhưng họ không thấy được tự do hành nghề. Rất ít những người trẻ thuộc thế hệ 1.5 còn sinh hoạt trong cộng đồng; phần lớn hội nhập vào và xây dựng sự nghiệp của mình trong giòng chính. Một số ít, vì một đam mê nghề nghiệp nào đó hoặc do nhu cầu phục vụ, đi về Việt Nam làm việc, cả phối hợp với các cơ quan trong nước, để làm những việc mà họ không có cơ hội và được sự hỗ trợ của cộng đồng hải ngoại. Điển hình là phần lớn những phim truyện được trình chiếu trong kỳ đại hội điện ảnh Việt Film Fest vừa qua đã xuất phát từ Việt Nam nhưng lại do những nhà làm phim gốc Việt tại Mỹ thực hiện, với sự phối hợp và giúp đỡ của các cơ quan trong nước. Ngoài ra, còn có những người trẻ về nước trong âm thầm để làm những việc xã hội cho những lớp người dân đã bị chế độ Hà Nội bỏ quên. Và không ít những người trẻ này đã bị nhiều người trong cộng đồng chỉ trích là làm lợi cho cộng sản, hay bị cộng sản lợi dụng.
Phải thẳng thắn mà nhìn nhận là giữa các thế hệ 1 và 1.5 – khoan nói tới thế hệ 2 trở đi, gồm các em sinh ra tại Mỹ -- hiện có một hố sâu ngăn cách: chúng ta không hiểu các con em của mình,  cho là chúng bị Mỹ hoá, và về quan điểm chính trị, chúng chưa hay không chống cộng đủ. Và ngược lại, các thế hệ trẻ không hiểu chúng ta. Một chuyện khá bi hài về bất đồng thế hệ mà tôi nghe kể, là có vài vị trưởng thượng tại một thành phố nọ ở Quận Cam đã đòi đuổi một ông thị trưởng trẻ gốc Việt về vườn, bằng luật "recall," vì ông này không chống cộng đủ. Nhiều  bậc cha mẹ còn giữ thói quen "nói xuống" các em, thay vì "nói với," cho rằng chúng phải tìm tới mình, thay vì mình với tới (reach out) chúng. Tình trạng này xảy ra phần lớn cũng còn vì ngôn ngữ bất đồng: cha mẹ không đủ tiếng Mỹ để nói chuyện sâu sắc với các con, mà con cái thì cũng không đủ tiếng Việt để đối thoại một cách có ý nghĩa với cha mẹ. Nhiều em lớn lên hay sinh ra ở Mỹ không thông thạo tiếng Việt thường bị các bậc cha mẹ hay trưởng thượng kỳ thị, không coi các em là người Việt; thế nhưng họ lại vui vẻ đón nhận và khen ngợi một người Mỹ hay ngoại chủng chỉ vì người này thích ăn cơm Việt, biết dùng nước mắm, và bập bẹ được vài câu tiếng Việt. Đấy là chỉ mới nói tới chuyện bất đồng ngôn ngữ và văn hoá, khoan nói tới lịch sử hay chính trị, đặc biệt là cuộc chiến Việt Nam.
Tuổi trẻ Việt, qua "The Sympathizer," theo cảm nhận chủ quan của tôi, hình như đã nhìn thấy đường ra khỏi trận hoả mù mà cuộc chiến Việt Nam đã gây ra. Thái độ của tôi là chấp nhận họ với một trạng thái như thế, cũng như không nên gán cho cuốn tiểu thuyết cái nhãn "chống Cộng" hay "thân Cộng."
Vả lại, đây chẳng qua chỉ là một cuốn tiểu thuyết. Và cũng có lẽ chỉ có văn chương vốn có một kích thước vô bờ bến, và với hình thức tiểu thuyết, mới có thể giúp tác giả nói lên được những suy tư chủ quan của mình, trong hành trình chữa thương nhằm "giải oan cho cuộc biển dâu" (***) này, chăng?
Tôi đọc đâu đó, được biết tác giả Nguyễn Thanh Việt đang viết cuốn "sequel" của "The Sympathizer." Đã từng thưởng ngoạn tính chất văn chương của "The Sympathizer," tất nhiên là tôi chờ đợi cuốn kế.

Trùng Dương
Tháng 4. 2016
Nguồn: Da Màu 
________________________________________
Chú thích:
(*) "Người Mỹ 'phải nhìn khác về chiến tranh VN'," http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2016/04/160418_the_sympathizer_pulitzer_comments
(**) "Báo chí Miền Nam: Nhân 38 năm ngày giỗ Chu Tử, Nhìn lại vụ Chu Tử bị ám sát hụt, ngày 16- 4-1966," http://www.diendantheky.net/2013/05/trung-duong-bao-chi-mien-nam-nhan-ky.html.
(***) Thơ Tô Thùy Yên, bài "Ta Về," http://poem.tkaraoke.com/10069/Ta_Ve.html


Sunday, May 1, 2016

2292. Tranh NGUYỄN QUANG CHƠN Chân dung Lữ Quỳnh





t r a n h
nguyễn quang chơn


CHÂN DUNG LỮ QUỲNH
Nguyễn Quang Chơn vẽ qua trí nhớ
Oil on canvas – May 2, 2016





2291. PHẠM CAO HOÀNG Bút ký/Truyện VỀ CHỐN CŨ


Cúc Hoa,  Đà Lạt  thời chưa biết buồn - Photo by MD  (1974)


1.

Chuyến đi chỉ có ba tuần mà chúng tôi phải chuẩn bị  đến gần ba tháng.  Có  nhiều  thứ  để chuẩn bị  nhưng quan trọng nhất vẫn là sức khỏe của Cúc Hoa. Cúc Hoa dành nhiều thời gian để tập đi bộ và leo dốc.  Kết quả  chụp X-ray trong lần tái  khám sau cùng cho thấy chỗ xương bị rạn đã lành hẳn. Bước đi chưa nhanh nhưng đã lấy lại được sự thăng bằng cần thiết.  Như vậy là có thể an tâm lên đường. Ngày nào chúng tôi cũng  bàn với nhau về những thứ cần mang theo, những nơi cần phải đến, những người cần phải thăm. Hơn mười năm rồi. Nhớ từng con đường, từng góc phố, từng khuôn mặt thân thương. 

Đêm trước ngày lên đường, chúng tôi thức trắng. Cả nhà rộn ràng như đêm giao thừa. Sau những tháng năm chờ đợi, hôm nay chúng tôi trở lại quê nhà.

Chúng  tôi  đi  máy  bay  của  hãng hàng không Korean Air, lộ trình Virginia – Seoul và  Seoul – Sài Gòn.  Từ Virginia đến Seoul mất 13 tiếng  và từ  Seoul về Sài Gòn thêm 5 tiếng nữa. Korean Air để lại cho tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp vì đội ngũ tiếp viên rất  lịch sự và chu đáo. Đường xa tưởng là mệt lắm nhưng chẳng mệt gì cả. Định lên máy bay sẽ ngủ bù nhưng rồi cũng không ngủ được. Cứ dán mắt vào màn hình trước mặt theo dõi lộ trình chuyến bay xem đã  đến đâu, còn bao lâu nữa thì tới. Khoảng cách cứ thu lại dần, cho đến khi máy bay hạ cánh xuống phi trường Incheon, Nam Hàn, chúng tôi cảm thấy nhẹ nhỏm. Đoạn đường xa nhất đã vượt qua. Còn 5 tiếng nữa thôi, sắp về tới  nhà rồi.

9.1.2012, gần nửa đêm, chúng tôi về tới Tân Sơn Nhất. Làm thủ tục nhập cảnh xong, chúng tôi tìm đến chỗ nhận hành lý. Đồ đạc chúng tôi mang theo khá nhiều nên cũng hơi lo không biết có cái nào bị thất lạc hay không. May quá, không có cái nào bị thất lạc. Chúng tôi nghỉ qua đêm tại một khách sạn nhỏ ở Sài Gòn và chiều hôm sau  đã có mặt ở Tuy Hòa.

Tuy Hòa là một thành phố biển nằm giữa Nha Trang và Qui Nhơn, nơi tôi sống suốt thời gian theo học bậc trung học. Rời phi trường Đông Tác, chúng tôi đi nhanh một vòng trong thành phố. Tôi muốn thấy lại chiếc cầu 21 nhịp mà hồi đó tôi gọi là những nhịp cầu đen buồn bã. Tôi muốn nhìn lại ngôi trường Nguyễn Huệ, nơi đầy ắp những kỷ niệm của tuổi học trò.

Chúng tôi chỉ có một tuần ở Tuy Hòa. Tôi dành hết khoảng thời gian này để về Phú Thứ thăm mồ mả ông bà, thắp mấy nén nhang cho cha mẹ tôi và ở lại trong căn nhà thời thơ ấu. Xe chạy về Phú Thứ trên con đường quen thuộc dọc theo mương dẫn thủy của đập Đồng Cam, dọc theo những cánh đồng thơm ngát mùi hương của đất.

mùi hương của đất làm con nhớ
những giọt mồ hôi, những nhọc nhằn
cha đã vì con mà nhỏ xuống
cho giấc mơ đời con thêm xanh

mùi hương của đất làm con tiếc
những ngày hoa mộng, thuở bình yên
nồi cá rô thơm mùa lúa mới
và tiếng cười vui của mẹ hiền

Tôi mơ hồ thấy bóng cha tôi đang cúi xuống trên đồng ruộng,  mồ hôi nhễ nhại,  thấy bóng mẹ tôi thấp thoáng sau bếp,  loay hoay chuẩn bị bữa cơm chiều.

Cũng như nhiều gia đình  ở miền nam, sau 1975 anh em tôi sống tản mác  nhiều nơi, người sang Pháp, người qua Mỹ, người ở lại quê nhà. Chị Ba, chị Bốn, Tâm và Bảo là những người ở lại.  Suốt những ngày ở đó, mấy chị em cứ quấn quít bên nhau. Chúng tôi có những bữa ăn nơi chiếc bàn mà ngày xưa cả nhà thường quây quần trong bữa cơm chiều. Chúng tôi có những buổi tối ngồi trước hiên nhà chuyện vãn đến hai ba giờ sáng.

Tôi ra dòng sông Ba phía sau nhà, ngồi bên bờ sông mà lòng bồi hồi xúc động. Dù sao tôi vẫn còn may mắn có một quê nhà  để mà trở lại, có một dòng sông để ngồi nhớ tuổi thơ mình.

Không về thì thôi, đã về thì phải gặp người này một chút, người kia một chút cho vui. Đất lề quê thói mà. Do vậy, Bảo đưa tôi đi chào hỏi bà con. Trời mưa lai rai cả ngày nhưng đi thì cứ phải đi. Phước Bình, Phước Mỹ, Phú Nhiêu, Hòa Mỹ, Phú Thứ, Mỹ Lệ… Bà con nội ngoại chằng chịt, thật tình tôi không nhớ hết. Tôi đùa với Bảo, “ Chú đưa  đi đâu thì anh đi đó, bảo chào ai thì anh chào”.

Một tuần qua thật nhanh. Chưa kịp gì cả thì lại đến ngày phải ra đi. Không biết đây là lần thứ mấy tôi phải từ giã nơi này.  Cứ mỗi lần ra đi, tôi lại nhớ đến đôi mắt của mẹ tôi. Lần nào cũng vậy,  bà cứ cầm lấy bàn tay tôi,  “Đi đâu thì đi, nhưng lâu lâu nhớ về nghe con”. Ngày cuối cùng, tôi cứ nhìn đi nhìn lại căn nhà thời thơ ấu của mình, nhìn đi nhìn lại khuôn mặt của những người thân yêu trong gia đình. Chỉ lát nữa đây thôi, tất cả chỉ còn trong trí nhớ, chưa biết bao giờ mới gặp lại nhau. 


2.

Tr li Sài Gòn, chúng tôi có mt đêm dành riêng cho nhóm bn cũ  Đà Lt: Trn Minh Trin, Lan Khanh, Phan Bá Chc, Duy Thoán, Hng Nam, Nguyn Khc Nhượng. Th Đà Lt, chúng tôi sinh hot chung trong ca đoàn TING NÓI, và Phan Bá Chc là linh hn cca đoàn. Ngoài hai mươi tui, Chc đã có th dàn dng và điu khin nhng bn hp xướng ln như TRƯỜNG CA SÔNG LÔ, KHÚC HÁT SÔNG THAO… vi hàng trăm người hát.  Chúng  tôi  gi Chc là t đin nhc vì Chc thuc và nh nhc và li ca rt nhiu bài hát. Nh đến mc đáng ngc nhiên. Chc có thói quen khi hát c nhm nghin mt li, th hn theo dòng nhc.

Lâu lm ri mi được nghe li ging hát ca các bn tôi. NƯỚC NON NGÀN DM RA ĐI, TÌNH QUÊ, TÌNH HOÀI HƯƠNG… Tiếng hát ca các bn làm tôi nh vô cùng nhng ngày tháng cũ. Nh nhng đêm lang thang ngoài khu Hòa Bình vi Nhượng, m lòng vi mt ly sa đu nành. Nh nhng t nhà Chc Lĩnh nghe Chc hát nhng ca khúc trong tp  BY CHIM XƯA ĐÃ TR V. Nh nhng sm sương mù quyn vi khói cà phê   nhà Trin Khanh, Đơn Dương.

Các bn đu ngc nhiên khi thy Cúc Hoa đi li bình thường, nói  cười vui v.  Trin  và  Khanh  c  suýt  xoa, “Hoa  khe  ri, mng quá. Bn mình c nghĩ là sau tai nn Hoa còn thê thm lm”.

Chc hát tng Cúc Hoa bài ĐI THÔNG ca Y Vân. Đây là bài hát Hoa rất thích.

ngi trên đi vng, bên gc cây thông già
nhìn  theo  dòng  sui  trôi dưới chân đi
ôi ngày xưy đã qua
tôi nhìn thơ u ra đi
như nhìn ai đó xa l
mt ngày mt vng
mt m

Nhượng đc mt bài thơ Nhượng viết năm 1973 khi xung thăm tôi  Trm Hành, Đơn Dương. Ngày xưa, đi xe la t Phan Rang lên Đà Lt, hành khách phi qua nhiu trm, trong đó có Trm Hành, n phía trên Đơn Dương mt chút. Bài thơ làm tôi nh Trm Hành vi rng tiếp rng, vi mt tri sương trng ph mùa đông, vi nhng bông  quì vàng n r khi tháng chp v, và hình nh ch Tư cùng bn bè tôi trong nhng ln tìm đến chn này.

Mt đêm hi ng tuyt vi. Tôi tht s xúc đng khi được sng li nhng giây phút êm đm ca âm nhc, thi ca, và tình bn.


3.

Hôm sau,chúng tôi v Đà Lt bng máy bay  ca Vietnam Airlines, chuyến 7 gi sáng. Nôn nao vi chuyến đi nên mi 5 gi sáng chúng tôi đã  có mt ngoài phi trường.

16.1.2012, 8 gi sáng,  chúng tôi v ti phi trường Liên Khương.   Đà Lt hin dn ra trước mt: Thác Prenn, cây xăng Kim Cúc, h Xuân Hương. khu Hòa Bình… Cúc Hoa nm cht bàn tay tôi, ngơ ngác nhìn cnh vt hai bên đường.

Đu tiên chúng tôi v thăm căn nhà ca gia đình  Hoa  đường Hai Bà Trưng. Cúc Hoa vào ly bàn th ông bà, lng thng ra đng ngn ngơ trước cng, ri li tr vào nhìn dòng sui nh  phía sau nhà. Căn nhà cũ đã phá đi và xây dng li. Khung cnh khác rt nhiu nhưng có mt th vn còn nguyên vn: bc tranh sơn du v mt chu hoa, hi xưa treo  phòng khách. Mi người trong gia đình rt quí bc tranh này, vn được v trong thi chiến tranh, do mt người lính hi quân M v và tng cho anh Quang M, người anh c ca Hoa.

Các  em  ca  Hoa - Hương  và Tùng -  đưa chúng  tôi  và  Ánh, Trung  đi thăm  m người thân.  Ti  nghip  cho  Hoa:  mun thp  cho cha m mình mt nén nhang nhưng không biết th đâu. Cha m Hoa đu qua đ M. Nhiu người Vi M  được ha táng sau khi chết, tro được ri xung Đi Tây Dương, hy vng rng mt ngày nào đó xác thân s trôi git v Thái Bình Dương, tìm v chn cũ. 

Bui chiu, chúng tôi  ra đường Võ Tánh, bây gi là đường Bùi Th Xuân, đến ch quán Lc Huyn Cm ngày xưa, tin th ghé thăm Kim Huê luôn. Nhà ca bây gi kín mít sut dc con đường nhưng chúng tôi vn có th nhn ra v trí ca quán mt cách d dàng.

Chúng tôi đi qua đi li my ln, bi hi nh li đêm thơ nhc đã đưa chúng tôi đến vi nhau. Hi đó, Lê Uyên – Phương là mt hình nh rt lý tưởng đi vi  tui tr chúng tôi. Còn gì đp và lãng mn hơn khi Phương đàn và Lê Uyên hát nhng ca khúc ca Phương trong không gian m o ca Lc Huyn Cm và trong khi hát h c  đm đui nhìn nhau. Tôi mê nht là nhng lúc h nhìn nhau.

Hôm y,  Cúc Hoa  đến Lc Huyn Cm d đêm thơ nhc theo li mi ca tôi.  Sau khi kết thúc, tôi đưa Hoa v. Trên đường v, chúng tôi đi b vòng qua Khu Hòa Bình, ghé li ch đường Đoàn Th Đim ăn nh mt chút ri chia tay. K t hôm đó, Cúc Hoa đi bên cnh cuc đi tôi cho đến bây gi.

Chúng tôi đi b dc theo đường Hàm Nghi, ghé  cà phê Tùng. Hi đó, nếu đi vi bn bè, chúng tôi đến quán Domino  đường Phan Bi Châu, còn đi vi Cúc Hoa thì vào cà phê Tùng hoc Thy T. Cà phê Tùng ngon ni tiếng, và đá chanh thì tuyt, pha bng mt loi chanh có mùi thơm rt đc bit. Bây gi loi chanh  y không còn. Chúng tôi vào, lng l ngi vào ch ngày xưa chúng tôi vn thường ngi, gi hai th mà hi đó chúng tôi thường  gi.   ch ngi này, chúng tôi  đã có  nhng giây phút tuyt  vi  thu  mi quen nhau.   Nhng chiếc ghế da dc theo tường vn còn đó nhưng tiếng hát Christophe thì không còn. Christophe, ca sĩ người Pháp, mt thi làm tui tr chúng  tôi   ngây ngt  vi Main dans la main, Aline, Mal, Maman, Je suis parti, Oh mon amour… bây gi cũng đã thành dĩ vãng. Biết chúng tôi là nhng người đi tìm k nim, anh Thông - ch nhân cà phê Tùng - ân cn tiếp chuyn, hướng dn nên chp hình  góc nào, k cho nghe nhng bước thăng trm ca quán, nht là  giai đon sau 1975.

Ri cà phê Tùng, chúng tôi tiếp tc th b ra h Xuân Hương, ngi bên b h, nhìn sang cu Ông Đo... Bui chiu tht êm đm vi mt chút sương mù đang nh nhàng ph xung. Lòng chúng tôi cũng nh nhàng như khói sương kia. Đây là nhng phút giây hiếm hoi trong đi sng chúng tôi nhiu năm qua.

Khi chúng tôi ghé vào Thy T thì bên ngoài tri đã ti hn. Tri không lnh lm.  Chúng tôi  chn  mt chiếc bàn cnh lan can nhìn xung mt h. Hy chúng  tôi  thường lang thang trên Đi Cù, đi dc theo  h Xuân Hương, ri ghé vào đây.  Thy T bây gi không khác hi xưa bao nhiêu. Tôi gi cho mình mt ly Hennessy và mt ly cà phê sa cho Cúc Hoa. Đây là ch dng chân cui cùng trong ngày nên chúng tôi  li lâu hơn.

Mt ngày tht trn vn vi chúng tôi khi tr v Đà Lt


Cúc Hoa, ngày về chốn cũ, Đà Lạt, January 2012


T Virginia, Thiên Kim, Anh Kim, Quỳnh Anh vn theo dõi chuyến đi ca chúng tôi,  gi đin thoi v hi han mi chuyn.
-   Ba má đang  đâu?
-   Đang  ngoài đường.
-   Ba má đã đến nhng ch cn phi đến chưa?
-   Đến ri.
-   Má sao ri?
-   Má rt vui và khe.
-   Ba má gp cô Kim Huê chưa?
-   Gp ri.
-   Tìm cô Huê có d không?
-   Cũng không khó lm.

Kim Huê là bn thân ca Cúc Hoa hi còn đi hc. Nhà Huê  gn quán Lc Huyn Cm. Ngoài Thun ra, Huê là người biết nhiu v nhng k nim ca chúng tôi. Sau 1975, Huê vượt biên sang M, tìm gp li người yêu đã sang trước bên đó. Hai người kết hôn và có vi nhau ba đa con. Khi chúng tôi mi đến M, v chng Huê đã có mt cuc sng khá n đnh, làm ch hai nhà hàng  California. Thy chúng tôi chân ướt chân ráo, còn lúng túng v công ăn vic làm nơi x l quê người, Huê ng ý mun giúp đ, nói c sang Cali ri Huê s lo liu mi vic cho.

Kim Huê mua vé máy bay gi cho chúng tôi nhưng đúng vào ngày lên đường sang Cali thì xy ra v khng b September 11. Chuyến bay b hoãn li và chúng tôi không th đến Cali  như d đnh. Sau đó chúng tôi tìm được vic làm  Seattle nên thôi không sang ch Huê na nhưng vn nh mãi tm lòng ca Huê dành cho chúng tôi trong lúc khó khăn.

Mt  thi gian sau Huê thường gi đin thoi cho Hoa  tâm  s rng cuc sng gia đình bt đu sóng gió. Tưởng mi chuyn ri s qua, không ng tình hình càng ngày càng ti t hơn dn đến vic  hai  người  phi  chia tay.  Huê  bun ru và lâm bnh nng, không còn kh năng t chăm sóc mình. Gia đình  Huê phi đưa Huê v Đà Lt đ chăm sóc. Nhiu ln Cúc Hoa gi v  thăm Huê nhưng không trò chuyn được vì Huê đã mt kh năng giao tiếp.

Khi chúng tôi vào, Huê ch ngi im lng, khuôn mt ngơ ngác, tht thn, hoàn toàn không bc l cm xúc, không mng r khi gp li người quen. Hi người thân thì mi biết Huê sng mt đi sng gn như thc vt.

Trang, cháu ca Huê, hi:
-  Cô Huê ơi, có nh ai đây không?

Khó khăn lm Huê mi ú  được mt tiếng:
-  Hoa.

Trang hi tiếp:
-  Hoa nào?  đâu?

Mt ln na, hết sc c gng, Huê nói:
-  Hai Bà Trưng.

Cm tay Huê, Cúc Hoa khóc, “Sao li như thế này, Huê ơi!”.

Ngày xưa, Huê cũng mt thi áo trng Bùi Th Xuân cùng vi Thúy Nga, vi Thun, vi Cúc Hoa, và mt thi lãng mn cùng núi đi Đà Lt. Huê đã có mt mi tình tht đp, vượt đi dương, đp sóng d,  liu  chết  đ tìm li người yêu ca mình. Không ng mi th li kết thúc vi Huê mt cách bun thm như thế này. Chúng tôi gi mt chút quà cho Huê, góp mt phn rt nh cùng gia đình chăm sóc Huê, và t nh lòng s còn tr li vi Huê nhiu ln na.

Ngày tiếp theo, chúng tôi xung Đc Trng thăm ch Tám, người  đã cưu mang chúng tôi trong nhng năm chúng tôi bt đu cuc sng hôn nhân.

Hy, ch Tám và năm đa con còn trong đ tui đi hc sng trong mt căn nhà không ln lm. Chng ch chết sm và ch  vy nuôi con. Ch hin lành, phúc hu, và tt bng vô cùng. Ch ngăn vách làm mt ch  cho Cúc Hoa và tôi, có bếp và li đi riêng. Ch không cho chúng tôi đóng góp bt c khon tin bc nào trong sut nhng năm tháng  đó. Ch giúp chúng tôi có thêm vic làm, dành dm đ sau này có th mua  nhà.  Sáu năm sau, chúng tôi mua được căn nhà đu tiên ca mình.

Người xưa nói “ hin gp lành” nhưng ch Tám  hin mà không gp lành. Cách đây gn 20 năm, trong  mt ln thăm bà con  Bình Thun, xe đò b lt. Ch  gãy ct sng và t đó đến nay hai chân b lit, phi di chuyn bng xe lăn. Nhiu năm qua chúng tôi vn mong có mt ln gp li ch. Ti nghip ch, gn hai mươi năm phi ngi mt ch, đau kh biết chng nào.

Chúng tôi mun dành cho ch mt s bt ng nên không báo trước. Va bước vào nhà, ch nhn ra ngay, tr mt nhìn ri bt khóc, “Hai em v hi nào?  Ch không ng có ngày gp li hai em”. Ch hi thăm rt nhiu v Thiên Kim, vì Thiên Kim ln lên trong căn nhà ca ch. Nhìn ch ngi trên xe lăn thy thương ch quá. Tôi ước gì  có mt phép màu làm cho đôi chân ca ch bình thường tr li. Nh li tai nn đã xy ra cho Cúc Hoa hi tháng ba năm ngoái, tôi nghĩ mình vn còn may mn. T s may mn đó, chúng tôi thy mình cn phi chia s nhiu hơn  nhng bt hnh ca người khác, nht là bn bè và người thân ca mình. Chia tay ch mà lòng bun vi vi. Lên xe ri vn ngoái đu nhìn li. Ch ngi trên xe lăn, vy tay, nước mt lưng tròng.

Nhng ngày tiếp theo, chúng tôi tiếp tc lang thang  cùng khói cùng sương cùng núi đi Đà Lt. Ngày ca chúng tôi bt đu bng ch ng cà phê Tùng, sau đó vòng xung b h, ri tiếp tc đi. Đi đâu cũng được, min là Đà Lt.

Chúng tôi tìm đến nhng con đường mà hi đó có nhiu k nim: Duy Tân, Minh Mng, Yersin, Phan Đình Phùng… Phan Đình Phùng là con đường chúng tôi nh nhiu nht. Đường này song song vi đường Hai Bà Trưng. T nhà Cúc Hoa  sang đây có mt li đi tt rt gn, và tôi thường đón Cúc Hoa  đó. 

Chúng tôi ch có mt tu Đà Lt nên  Đà Lt rt gn mà cũng rt xa. Chúng tôi nâng niu tng ngày còn li, c s ngày s qua mau. Chúng tôi đi b nhiu,  lên nhng bc tam cp rt cao  nhưng   Cúc Hoa  không thy mt,  du hiu  cho thy sc khe đã khá n đnh. Đây là điu tôi mng nht. Chúng tôi đã tìm li được nhng th cn phi tìm, đi được nhng nơi cn phi đi, đến được nhng nơi cn phi đến, thăm được nhng người cn phi thăm.

Gi thì đã đến lúc phi chia tay  Đà Lt. Chia tay nhng con đường in du chân xưa . Chia tay rng thông và c cây sương khói. Chia tay mây tri và  gió núi Langbiang. Mong bình yên đến vi Kim Huê và nhng ngườ li.  Mong mt ngày v dù chưa biết khi nào.

Xe xung đèo Prenn. Đà Lt lùi dn v phía sau. Trong tôi bi hi mt cm xúc bun vui ln ln, còn  Cúc Hoa thì mơ màng nhìn qua ca xe, mt đ hoe. Cht nh hai câu thơ ca Trn Hoài Thư.

khi v biết ch gì theo.
ch theo vt nng trên đèo vào xe

, thì ch theo chút nng vàng ca Đà Lt v nơi vin x, sưởlòng mình trong nhng ngày tháng tha phương…./.

Phạm Cao Hoàng
March 2012

Ghi chú: tên của các nhân vật trong truyện là tên thật