Saturday, November 22, 2014

1244. Thơ ĐINH CƯỜNG Những đốm nắng






ĐINH CƯỜNG
NHỮNG ĐỐM NẮNG



- Những đốm nắng
sơn dầu trên canvas 30 x 40 in
dinhcuong



Mùa này những đốm nắng rất quý
và khi gió im ra cào lá ngoài sân
ngày cuối tuần toàn nghe tiếng máy
thổi lá tung hay cắt cỏ đều đều

một ngày sáng có Thành Tôn gọi
người bạn chân tình hiếm có làm sao
chiều có Phùng Nguyễn gọi mời
trưa mai gặp. lâu cũng nhớ anh em

loanh quanh vậy mà hết năm rồi bạn
và lại đi vào những tháng mùa đông
ôi mùa đông không biết sao mà nói
khi tuyết nhiều khi bão tuyết thổi qua

những đốm nắng nên chi là óng ánh
trên áo trên khăn những thiếu nữ kia
có một nụ hồng từ đâu rơi xuống
giữa trời xanh như mùa thu sắp qua …


Virginia, November 22, 2014

Đinh Cường 





1243. LỮ QUỲNH Truyện ngắn ANH HOÁN


   

       



Khi xe vượt qua trạm gác của quân cảnh để vào bến, tôi thò tay vào túi áo lấy sổ tay ra xem một lần nữa địa chỉ anh Hoán. Con số và tên đường đã nằm sẵn trong trí tôi, nhưng tôi vẫn không ngăn được thói quen máy móc của mình. Chiếc xe lắc lư tiến chậm rãi vào chỗ đậu giữa đám bụi mù hăng hăng mùi đất. Tôi đợi cho đám hành khách ngồi trước mình xuống hết, rồi mới thong thả cầm xắc tay xuống sau. Tôi gạt đám tài xế xe thồ, xe lam, xích lô đang chen khách, tiến tới một quán cóc gần đó. Tôi cần có ít phút để xếp đặt thời khắc biểu cho mình trong thời gian ngắn ngủi ở đây, dù cho chuyến đi này chẳng có gì quan trọng cả. Việc trước tiên có lẽ tôi sẽ tới thăm anh Hoán, sau đó sẽ tới ở lại chơi với Thung. Tôi gọi một ly cà phê đá, lấy một gói thuốc, và hỏi vẩn vơ cô hàng về con đường mà tôi sắp tới. Cô hàng nói, con đường đó nhà rất ít nên ông rất dễ tìm. Tôi mỉm cưới hình dung ra căn nhà của anh Hoán, tự hỏi không biết bây giờ những người ở đó còn ai nhận ra mình nữa không.


Đọc tiếp

Friday, November 21, 2014

1242. Thơ TRẨN YÊN HÒA Biển dâu tôi / Xuân nhớ chao ôi / Tụng ca em








BIỂN DÂU TÔI


Ơi rừng xanh kia còn đó hay không?
Hay cũng biến thành sông, thành suối
Ơi núi non kia còn đó hay không?
Hay tang thương như ta một dạo

Ngày tóc còn xanh phơi phới yêu em
Quần áo trắng ngây thơ tuổi trẻ
Ta mòn dần trên ghế tháng năm
Ngày lại ngày kinh qua dâu bể

Đời có lúc trắng xanh hy vọng
Đốt đuốc tìm sự nghiệp trên cao
Cũng có lúc đau thương lồng lộng
Vết dao đâm nát ngứu tim trào

Cũng có lúc quang vinh chất ngất
Đứng dưới cờ hát khúc hùng ca
Thề quyết chiến đáp lời sông núi
Ngẩng mặt lên gươm tuốt sáng lòa

Rồi đến khi cúi đầu gục mặt
Ôm vết thương thân thể nát nhàu
Thân tù tội bò lê bò lếch
Ngày vong thân làm kẻ cuồng đau

Sáu mươi năm bể dâu đã trải
Những mê hoang ảo ảnh chập chùng
Lòng chất ngất nghiệp đời hung bạo
Ta quay về buông xả bao dung

Trở về cùng em trong hang cổ tự
Nhìn đời bằng con mắt vô ưu
Ta đã ngộ đây là giấc bướm
Cuộc biển dâu nhìn quá ngậm ngùi




XUÂN NHỚ CHAO ÔI!


Có phải em mang mùa Xuân đi xa
Xa ngái trong lòng anh từ độ
Trăng thu muộn cũng đìu hiu một dạo
Anh lặng im thủi thủi với Xuân kề

Có lẽ em mang ngọn gió theo mưa
Thổi lạnh ngắt giữa mùa giao cảm
Thành phố lên đèn mình anh ảm đạm
Tượng đá nào rỉ máu giữa đêm khuya

Như chim xa cành kêu tiếng tịch liêu
Âm thanh động giữa trời vô vọng
Ngàn năm, trăm năm cô đơn, xa lắm
Đâu mùa Xuân của những tháng năm gần?

Thôi thì, em đi, đau xót châu thân
Anh ngó mãi biển bờ thương nhớ
Đất Trời đó hoài mang tân khổ
Và em thì, xa hút, biệt mù tăm

Mùa Xuân anh, giá lạnh quá chừng
Nghe rét buốt tận cùng phế phủ
Ơi Em, mùa Xuân tôi, hãy ngủ
Trong vô cùng, bừng mắt, hiện ra em.




TỤNG CA EM


Nếu anh nói buổi sớm mai thức dậy
Trên trời cao mây trắng chợt reo vui
Thì em đó đang rủ ơn mưa móc
Cho trần gian cây cỏ được xanh tươi

Nếu anh nói em quả là ánh sáng
Là trăng sao tơ lụa suối nguồn tuôn
Thì em đó hiện ra màu sáng lạn
Đem bao dung ân huệ đến cho người


Nếu anh nói dòng sông nào nước chảy
Qua truông khe róc rách mạch sầu dâng
Thì em đó đang lửng lơ bay nhảy
Cho tình ta thêm đẹp mấy trăm lần

Con nước đưa em ra từ anh sáng
Hớp hồn anh nguyên thủy đến vô cùng
Em là trăng tình yêu và mỹ nữ
Chảy tuôn trào nguồn ngọn, chạy tung tăng


Trần Yên Hòa




1241. Thơ NGUYỄN QUANG CHƠN Sài gòn tháng 11



Ảnh internet – Nguồn: http: news.destination-asia.com





Ồn ào. Ồ, đó Sài Gòn!
Rủi mà tĩnh mịch?
Như đờn không dây!

Người từ trời đông, trời tây
Về tìm nhau
Kể chi ngày, chi đêm
Lắng nghe tiếng gọi thân quen
Của hồn thu thảo 
Mông mênh thuở nào...

Sài Gòn vẫn cứ ngọt ngào
Vẫn ngà ngọc, vẫn dạt dào tình thân...

Người về bâng khuâng bước chân
Nắng mưa, mưa nắng như gần như xa
Lặng im nghe bóng tuổi già

Gặp nhau lại chuyện câu cà, câu kê...
Sài Gòn rộn rã bốn bề
Mà người người vẫn cận kề cùng nhau?

Sáng. Ly cà phê giọt sâu
Chiều. Ly bia nặng tiếng sầu tìm quên

Tìm nhau tự cõi mông mênh
Nắng ôm giọt nắng bên thềm. Có đau???

Gởi Sài Gòn, gởi nhiệm mầu
Gởi cho nhau đến ngàn sau. Cũng là...


Nguyễn Quang Chơn
21.11.14
Tặng NM, DC, DNM





1240. Thơ ĐINH CƯỜNG Gởi những người bạn đang ngồi ở Huế



 




Đâu có gì ngoài những ngọn đèn vàng
đã bật lên trong xóm. thảm lá khô nằm im lạnh
những chậu cây đem vô nhà hai tuần trước
có hoa chanh đang nở trắng từng chùm

đâu có gì một người bạn đang đi ra Huế hỏi
miền Đông bão tuyết chưa. chưa Thái ơi 
nhưng ghe nói năm nay lạnh nhiều
nhìn các bạn ngồi bên nhau mà vui lây

các bạn ngồi bên gốc cây hoa ngâu
lần nào về thăm Bửu Ý cũng chụp hình kỷ niệm
nay quán Con Tắc Kè mở vậy mà cũng đã lâu
nghe Mưa nói cũng đông khách lắm bác

nhìn ảnh các bạn ngồi cùng nhau. tóc bạc
có Nguyễn  Hữu Châu Phan thì còn lưa thưa
tôi bên này trời lạnh quá không đi bộ được
cứ loanh quanh đi lên đi xuống trong nhà …

Virginia, November 21, 2014
Đinh Cường




Huế, chiều thứ Năm, 20 November 2014 tại quán Gecko của Bửu Ý.
Nguyễn Quốc Thái - Nguyễn Hữu Châu Phan - Bửu Ý






1239. Thơ ĐINH CƯỜNG Khi xem chân dung Nguyệt Mai Đỗ Hồng Ngọc vẽ








Nguyệt Mai về Sài Gòn
gặp thăm nhiều bạn
được mời ngồi cà phê
nhưng chỉ thích nước dừa

nên Đỗ Hồng Ngọc đã vẽ
phác thảo chân dung chị
với trái dừa vỏ trắng đẹp ghê
chỉ mấy nét thôi mà hạnh phúc

chỉ mấy nét thôi là nụ cười
không có tâm lành không bắt được
dù chỉ là mấy nét trời ơi
nét là tài hoa hồn là người

mừng chị được kỷ niệm
của một bác sĩ như Phật
cứ chỉ trăng mà không là trăng
nên nhìn chân dung thấy ánh trăng rằm


Virginia, November 21, 2014
Đinh Cường 



Nguyệt Mai – Đỗ Hồng Ngọc vẽ

1238. MANG VIÊN LONG Hồi ký NHƯ ÁNG MÂY TRÔI (4)


                     



4.

DUYÊN LÀNH GẶP GỠ  Ở TUY HÒA



           
Thi đậu Trung học đệ nhất cấp (cuối năm đệ tứ), anh tôi nói: “Mày học vậy là đủ rồi, nhà không có tiền nuôi ăn học tiếp được nữa. Tìm ngành nào thu nhận bằng THĐNC thì nộp đơn xin thi, tìm cái nghề để sống, hay ở nhà phụ làm nghề hình với tao! Nếu có vào lính, cũng được lon Trung sĩ!”. Tôi biết, có vài ngành sử dụng bằng THĐNC khi thi vào, như trường Cán Sự Y Tế ở Huế, Phụ tá phòng Thí nghiệm ở Saigon, Sư phạm cấp tốc ở Nha Trang, nhưng tôi rất muốn được đi học thêm. Chị tôi và tôi thầm nghĩ số tài sản của cha mẹ chúng tôi để lại gồm bốn căn nhà và một mẫu ruộng loại một có thể nuôi cả hai chị em tôi ăn học ít nhất là qua hết bậc trung học nhưng chỉ một mình tôi đi học mà anh Nguyên đã luôn than phiền “nhà rất nghèo”, không lo cho tôi được chu đáo  nhưng chúng tôi không dám nói gì hơn là im lặng! Câu “quyền huynh thế phụ” tôi có biết nhưng  với chúng tôi anh Nguyên đã không thể hiện được chút tình yêu thương, gần gũi nào, huống hồ là sự chăm sóc, bảo bọc, hy sinh! Sự lạnh nhạt và khe khắt của anh đã để lại trong tâm hồn non trẻ của tôi một dấu hằn buồn tủi, không bao giờ phai mờ! Chúng tôi chỉ biết nguyện cầu…
           
Tôi xin tiền chị tôi dể đi Qui Nhơn một ngày, tìm nhà dạy kèm (hay công việc lặt vặt gì đó) để có thể có cơm ăn ngày hai bữa mà đi hoc. Suốt buổi sáng tôi thất vọng vì nhà nào cũng đã có người dạy từ năm trước rồi, không thể nhận thêm. Buổi trưa, đang lang thang dọc phố Gia Long  tôi chợt nhớ một người quen đồng hương An Nhơn có hiệu buôn lớn trên con đường này. Tôi ghé lại thăm và ngỏ lời xin anh giúp hay nhờ anh giới thiệu cho những gia đình khác vì có người quen giới thiệu người ta mới tin tưởng mà nhận. Nghe tôi tha thiết trình bày ý nguyện, anh cười: “Em ở lại đây đi! Nhà anh năm nay có hai đứa học đệ tứ, sắp thi THĐNC, một đứa sắp thi vào đệ thất kỹ thuật, một đứa đang học lớp ba trường Bùi thị Xuân ở Cầu Đôi cần người chở đi về; anh biết hoàn cảnh mồ côi bất hạnh của em, nhưng em thiệt thà học giỏi nên anh muốn giúp đỡ…”. Tôi rất xúc động, và vui mừng vì tấm lòng tốt của anh đã dành cho tôi. Tôi đã nói lời cảm ơn anh  bằng những giọt nước mắt…
         
Vậy là tôi vẫn có thể đến trường, như bao bạn khác. Tôi chưa phải vĩnh viễn rời xa trường lớp, thầy cô, bạn bè như những ngày qua đã có lúc nghĩ đến mà buồn thầm! Gần ba tháng được nghỉ hè tôi không yên tâm học ôn bài, luôn bị dày vò, mặc cảm dằn vặt bởi viễn ảnh không có gì hứa hẹn cho tôi.
         
Vào năm học mới, tôi đã vừa đi học vừa làm tất cả việc anh giao: dạy kèm cho hai cậu luyện thi Trung học, một cậu thi vào Đệ thất kỹ thuật, chở cô con gái nhỏ đi học, dọn hàng mỗi sáng - tối… Tôi được sự cảm thông và thân tình của hai người con trai nên chuyện “ăn ở” cũng tương đối vui vẻ! Tôi đã luôn thầm nhủ, phải tự “dọn mình” cho bất kỳ gặp gỡ buồn tủi nào để việc học của mình được tiếp tục…
         
Tôi qua khỏi năm đệ tam với kết quả cuối năm đạt học sinh khá. Ba đứa con người chủ nhà cũng đều thi đậu tuy tỷ số đậu năm ấy cũng rất thấp, nhất là trường Trung học Kỹ thuật chỉ chọn học sinh vào là 8 phần trăm. Gần ngày khai giảng năm học mới, tôi lại xuống Qui Nhơn thăm người chủ nhà cũ đã dạy kèm năm ngoái với hy vọng sẽ được tiếp tục “giúp đỡ” thêm ít ra cũng một năm nữa để tôi an tâm thi Tú Tài một nhưng đã bị ông ta từ chối với lý do “dạo này họ kiểm tra người ở trọ gắt quá vì có chương trình ấp chiến lược gì đó!”. Tôi lặng im, không biết nói gì them, cảm thấy người bần thần, mệt nhoài như vừa  phải chạy qua một đoạn đường dài đồi dốc! Tôi nhận ra đây là lời từ chối khéo vì anh đã không còn cần tôi nữa! Tôi biết không thể nài nỉ thêm để thay đổi quyết định mà có lẽ  anh đã suy nghĩ từ trước. Lời anh đã ân cần nói với tôi năm ngoái “anh biết hoàn cảnh mồ côi bất hạnh của em, nhưng em thiệt thà, học giỏi nên anh muốn giúp đỡ” không thể được lập lại lần nữa rồi, anh đã quên - khiến tôi rất ngỡ ngàng, chua xót…Tôi cảm thấy con đường đến trường của tôi như mờ mịt, lùi xa dần!
           
Sau khi ra khỏi nhà người chủ quen, tôi mệt lả người vì buồn và đói nhưng chân vẫn bước đi lang thang không định hướng dưới cơn nắng trưa như lửa đổ. Tôi ghé vào hiệu kem Ngọc Thành trên đường Phan Bội Châu để có chỗ ngồi nghỉ ngơi một chút rồi sẽ đi tiếp cho hết buổi chiều. Vừa bước vào, tôi đã nghe tiếng Thanh gọi tôi. Thanh lớn hơn tôi vài tuổi, đang học ở trường tư thục Bồ Đề, thường lui tới chơi với mấy người bạn cùng ở trọ với tôi thuở trước. Cậu ấy đang ngồi ở góc trong bên trái, với ly cà phê đá. Tôi mệt mỏi tiến lại, kéo ghế ngồi, và gọi một ly kem ăn cho đỡ khát. Thanh gọi thêm bánh ngọt cho cả hai. Thanh lấy làm lạ, hỏi tôi đang đi đâu giữa trưa. Tôi nói ý định của mình, như một lời tâm sự. Thanh vỗ tay “đốp” một cái, cười thoải mái: “Vậy mày về ở với tao. Năm nay tao cũng học thi lại Tú Tài Một…”. Tôi hỏi: ”Ở là sao?” - “Tao sẽ nói với bà già, cho mày ăn ở không, hướng dẫn tao học ôn thi lại, chắc là bà già mừng lắm!”. Tôi biết Thanh là con một của một gia đình trung lưu, ba Thanh có hiệu hớt tóc trên đường Cường Để, hằng ngày tôi vẫn đi qua, có hôm ghé lại chơi. Cha mẹ Thanh rất cưng chìu cậu ấy, rất mong Thanh chăm học, bớt đi chơi hoang, chắc chắn là lời nói của Thanh sẽ được bà chấp thuận. Thanh giành trả tiền, chở tôi về nhà luôn, trên chiếc xe đạp mới. Đúng như tôi nghĩ, mẹ Thanh rất hài lòng với quyết định của Thanh… Năm ấy, tôi có chỗ ăn ở đàng hoàng, tươm tất, thi đậu Tú Tài một hạng Bình, còn Thanh cũng đậu hạng thứ với điểm vớt vì bão lụt.
           
Năm đệ nhất tôi không còn ở nhà Thanh nữa, vì cậu ấy đã tới tuổi động viên nên vào Thủ Đức. Thanh giới thiệu tôi với một người quen, lớn tuổi, chỉ dạy ông ấy môn Anh Văn, nhưng tiền thù lao không đủ chi dùng trong tháng. Tôi phải nhờ chị Thục trong mấy tháng đầu, sau đó mới tìm thêm được hai chỗ kèm cho trẻ đang học lớp Năm. Cuối năm tôi đã thi đâu Tú tài hai, ban C, với hạng Bình Thứ dầu tỷ lệ đậu khi thi viết là 10 phần trăm, vào thi vấn đáp chỉ còn 8 phần trăm! Đậu tú tài hai, có nghĩa là tôi chưa bị động viên sớm như một số bạn học cùng trang lứa, thi hỏng, đã phải trình diện nhập ngũ vào Thủ Đức.
         
Tình cờ, tôi đọc được thông báo của Bộ Giáo Dục đang tuyển chọn sinh viên du học tại Nhật nên vội làm đơn. Tôi gởi hồ sơ bằng đường bưu điện, theo cách gởi thư thường. Chờ đợi mãi không thấy tin, hỏi ra mới hay họ không hề nhận được hồ sơ nào của tôi cả! Tôi có “buồn năm phút” nhưng tin rằng trong cái rủi, có cái may tốt hơn, không hề chán nản.
             
Nhớ lại chuyện cũ: Khi thi viết Tú Tài hai xong, kết quả được niêm yết ở trường, lại có thông báo đọc ở đài phát thanh Qui Nhơn, cho biết lịch thí sinh phải vào vấn đáp; nhưng tôi không hề biết gì (vì không có thời gian và điều kiện theo dõi). Đến buổi chiều cuối cùng của ngày thi vấn đáp, tôi  tình cờ gặp người bạn, hỏi tôi sao không đi Qui Nhơn “thi oral”  tôi mới hay là mình đã đậu phần thi viết rồi! Không kịp cắt tóc, và thay áo quần cho tươm tất, tôi vội mượn tiền người hàng xóm, đón xe đi Qui Nhơn với hy vọng sẽ còn kịp thời gian. Thật là may mắn, khi tôi chạy vào, sân trường đã vắng hoe.  Tìm ra phòng thi của mình, tôi hớt hãi vào xin Thầy cho phép dự thi vì ở quê xa - nhìn trong phòng chỉ còn lại một người…Lúc ấy, nếu người duy nhất thi xong, Thầy bước ra khỏi phòng (hay gặp ông Thầy khó tính) thì có lẽ…cuộc đời tôi đã khác! Cuộc đời, vẫn thường có những gặp gỡ “tình cờ ngãuu nhiên” mà có thể thay đổi cả đời sống của một đời người…
           
Tôi xin tiền chị Thục vừa đủ vào Sài Gòn mấy hôm để ghi danh học trường Luật và tìm kiếm một việc làm cho năm học thứ nhất. Sài Gòn rộng lớn và phồn hoa là vậy nhưng tôi không tìm được một chỗ nhỏ nào có thể chen vào. Sài Gòn  với tôi vô cùng xa lạ, vô cùng buồn tẻ, và cũng vô cùng lạc lõng. Trong lúc lòng hoang mang, lo lắng vì số tiền chị Thục cho đã sắp cạn mà chẳng tìm ra chỗ trú chân cho mình  tình cờ tôi gặp Minh (Trần Ngọc Minh - sau này có bút danh là Đam San -  Lương Châu) đang ghi danh học ở Văn Khoa - khoa Triết Đông - là bạn đồng hương, học cùng lớp thời tiểu học, ở cùng đường phố, từng “đánh đáo, chơi vụ, bắn bi” với nhau, đã vào sống ở Sài Gòn với người chú từ năm đệ tứ, đang có mặt ở sân trường Văn Khoa. Nghe tôi kể, cậu ta góp ý: “Cậu về nộp đơn thi vào Trường Quốc Gia Sư Phạm Qui Nhơn đi. Nếu thi đậu, cậu có tiền học bổng đủ sống trong hai năm, được hoãn dịch, ra trường được bổ nhiệm đi dạy có lương ngay. Chuyện học Luật hay Văn khoa để mình sẽ nhờ “nhóm sinh viên phụ trách trợ giúp sinh viên ở xa” của Hội gởi cours bài hằng tháng cho cậu học, đến ngày thi thì vào Sài Gòn thi, lo gì? Sau hai năm tập sự, qua một kỳ thi sát hạch, cậu đương nhiên là giáo sư trung học đệ nhất cấp, nếu có đủ cử nhân, cậu sẽ được vào ngạch giáo sư trung học đệ nhị cấp ngay thôi mà…”. Người bạn đưa tôi về nhà người chú ở đường Bùi Viện nghỉ chơi một ngày, trước khi về lại Qui Nhơn. Theo sự góp ý bạn, tôi nộp đơn xin thi vào Trường Sư Phạm Qui Nhơn… Ra trường, tôi được cho về dạy ở Tuy Hòa.
             
Gần 12 năm dạy học ở Tuy Hòa, tôi đã có duyên gặp Đại Đức Thích Giác Lượng. Một buổi sáng, Thầy tìm đến nhà trọ thăm tôi, cho biết, Thầy là người đồng hương với tôi (Thầy ở thôn Bằng Châu, xã Đập Đá - An Nhơn), hằng tháng có nhiệm vụ ghé thăm các tịnh xá của hệ phái khất sĩ ở miền trung và cao nguyên. Thầy đã đọc các tạp chí văn học, biết tôi đang dạy học ở đây, nên đến thăm. Lần gặp đầu tiên, Thầy mang đến tặng cho tôi bộ Kinh Hoa Nghiêm và một tập thơ của Thầy vừa ấn hành, ký bút danh Tuệ Đàm Tử. Sau đó, cứ vài ba tháng, Thầy ghé thăm tôi một lần, cho tôi vài cuốn Kinh mới, hay tập sách của Thầy vừa xuất bản. Và tôi đã theo Thầy về tinh thất Ngọc Phú trên đường Nguyễn Công Trứ để thọ trai, cùng nhau trò chuyện về Đạo, về Thơ văn, rất đầm ấm, chân tình!
           
Một lần, vào mùa hè năm 1969, Thầy ghé thăm tôi ở Qui Nhơn và hỏi: “Ngày mai đoàn quý Sư về thuyết pháp ở tịnh xá Ngọc Hòa, Cù lao xanh - đảo Nhơn Châu, huynh đi không?”. Tôi đã thưa với Thầy, rất vui mừng được tháp tùng đoàn của quý Sư trong chuyến hoằng pháp một tuần nầy.
           
Buổi sáng hôm sau, tôi đi theo đoàn của quý Sư ra bến ca nô, bắt đầu chuyến hành hương. Ca nô cập bến Nhơn Châu vào buổi trưa, Phật tử trên đảo đã có mặt sẵn gần một trăm người, áo tràng chỉnh tề, đón tiếp đoàn về tịnh thất Ngọc Hòa trên triền núi cao. Tôi lại tiếp bước đi sau cùng đoàn người áo vàng... Tối hôm đó có buổi thuyết giảng của quý Hoà Thương, Thượng Tọa, Đại Đức ngay trong khoảng sân chật hẹp của tịnh thất, một số Phật tử phải ngồi chung quanh trên các tảng đá cao. Tôi cũng tìm một tảng đá, hơi cách xa - ngồi nghe giảng pháp. Chương trình khai giảng kinh đã chọn đứng vào đêm Rằm, những ngày có trăng, quang cảnh thật mát mẻ, yên lành. Sau buổi thuyết pháp, bà con lần lượt xuống bãi, về nhà. Thầy Giác Lượng đã đến ngổi trên tảng đá với tôi, Thầy trò vừa uống trà, vừa trò chuyện đến khuya… Tôi cũng đã được Thầy dành cho một chiếc cốc nhỏ để ngã lưng, có thể nhìn ngắm trăng và đón gió biển qua khung cửa bỏ trống!
           
Ở Tuy Hòa, qua hai người bạn văn đồng nghiệp thàng hậu, chân tình là anh Trần Huiền Ân và Đỗ Chu Thăng (Nhã Nam - Ngô Thạch Ủng) đang dạy ở trường Trung học Bồ Đề Tuy Hòa và Hiếu Xương, tôi được gần gũi thân thiết với quý Thầy Thích Thiện Đạo, Thích Minh Tâm và một số quý Thầy trong ban giám hiệu. Thầy Thiện Đạo vẫn thường cho chúng tôi xem vài bài thơ thấm đượm Thiền vị, tình Đạo, tình Đời rất sâu sắc của Thầy. Thỉnh thoảng Thầy ghé cho tôi vài tập sách báo, vài quyển kinh mỏng, để làm quen với Đạo. Tôi bắt đầu tiếp cận với Đạo Phật từ dạo ấy…
           
Sau đó không lâu, Thầy Minh Tâm đổi về Phan Thiết. Trước khi đi, Thầy vui vẻ hỏi tôi: “Thầy đi, Long muốn Thầy tặng món gì?”, Tôi cười: “Tôi thích một món, nhưng có lẽ không được!” - “Long cứ nói đi!” -  Sau một phút do dự, tôi thưa: “Tôi muốn Thầy tặng cho tấm áo cà sa!” - Thầy cười: “Được rồi!”. Ngay hôm sau, Thầy gói chiếc áo ca sa vàng thật kỹ, đem đến nhà trọ thăm và cho tôi. Tôi vô cùng ngạc nhiên và biết ơn Thầy…
           
Cũng tại cái thị xã bé nhỏ yên vắng thân thiết này, nhân lúc được tin anh Nguyên bị Bộ chỉ huy 5 Tiếp vận thuyên chuyển lên Buôn Mê Thuột vì “vợ anh có dính líu đến vụ mua bán hàng hóa với lính Mỹ”, tôi đã vào Nha Trang thăm gia đình anh và đưa đứa cháu mười tuổi (trưởng nam, con anh Nguyên) từ NhaTrang ra Tuy Hòa trọ học; đồng thời viết thư “minh oan, khiếu nại” gởi cho Chỉ Huy trưởng BCH 5 TV; sau đó vài tháng, anh Nguyên đã được chuyển về lại Nha Trang với gia đình; chú cháu cũng đã có những tháng ngày sống chung thật êm đềm!
         
Ở Tuy Hòa, tôi đã có duyên lành kết thân với anh em đồng nghiệp và bạn văn, rất chân tình: quý anh Lê Tăng Mính, Phan Tiên Hương, Đàm Khánh Hạ, Phan Long Côn. Khánh Linh, Y Uyên,  Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Tường Văn, Bùi Đăng Khuê, Vũ Viết Điềm, Phan Việt Thủy, Trương Can, Lê Khắc Long, Nguyễn Sông Ba, Phan Bá Chức, Triều Hạnh, Vân Trang, Phạm Ngọc Lư, Hoàng Đình Huy Quan, Phạm Cao Hoàng và nhiều thân hữu, học sinh chí tình - ghi dấu một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng…


(Còn tiếp…)
MANG VIÊN LONG



Từ trái sang: Mang Viên Long - Khánh Linh - Chị Minh Quân - Trần Huiền Ân
(Tuy hòa, năm 1973)




Thursday, November 20, 2014

1237. Thơ ĐINH CƯỜNG Và sáng Sài Gòn bên này là tối (2)






ĐINH CƯỜNG
VÀ SÁNG SÀI GÒN BÊN NÀY LÀ TỐI (2)




- Thiếu nữ và cửa sổ miền đồi núi
sơn dầu trên canvas 36 x 38 in
dinhcuong 10 - 2014





Và blogger Trần Thị Nguyệt Mai
đang ngồi cà phê Terrace – Sài Gòn
sao trông hình như đang ở Mỹ
người vẽ khuôn mặt chị thuỳ mị
Nguyễn Quang Chơn và con trai
Nguyễn Quang Dũng ở San Jose
rất thương quý Nguyễn Xuân Hoàng

nên nói tôi để cho bức tranh kỷ niệm
tôi vẽ dở dang từ khi người bạn mất
gần tháng sau mới vẽ tiếp. bức tranh
có khung cửa sổ và người thiếu nữ 
nhìn ra miền đồi núi. ánh chút mây hồng
bức tranh này Nguyệt Mai cũng thích
nói hay để cho em. mà Chơn nói trước

hai người cùng thích bức tranh
có cánh cửa sổ màu xanh indigo
một người ở Ohio một người Đà Nẵng
đều có những tấm lòng rất đẹp
nhìn chân dung Chơn vẽ Nguyệt Mai
sáng nay khi bên này là tối, rừng câm ...


Virginia, November 20, 2014
Đinh Cường


Cà phê Terrace - Sài Gòn






1236. Thơ ĐINH CƯỜNG Đốm nắng chiều




Ảnh PCH – Scibilia 2014





Chút nắng lên. ngày lạnh
như hớp rượu Làng Vân
chút mặt trời tắt vội
như phà hơi thuốc lào

nhớ người nhạc sĩ ấy
mái tóc dài bạc phau
nhớ giọng trầm phiêu bạt 
những năm tháng u sầu

ôi Hà Nội. về đâu
lần đầu tôi ra đó
nhớ hoài Thái Bá Vân
với căn gác rất nhỏ

mùa hè nóng làm sao
ở trần ngồi uống rượu
nay các anh không còn
đốm nắng chiều bỗng nhớ …


Virginia, November 20, 2014
Đinh Cường



- Thái Bá Vân
Trịnh Công Sơn vẽ


- Văn Cao 
sơn dầu trên canvas 16 x 19 in 
dinhcuong 1987 
( coll. Mr. Đặng Tiến - Orléans )