Wednesday, June 29, 2016

2391. T.VẤN Nhà thơ Thành Tôn và những quyển sách thủ công


T.Vấn
Nhà thơ Thành Tôn
và những quyển sách thủ công

THÀNH TÔN  (Ảnh Lưu Na - California, 2012)



1.

Thế là tôi lại có mặt tại quận Cam của Cali vào một ngày tháng 5, với vài cuộc vui xum họp gia đình và bạn hữu từ mái quân trường xưa ở một thành phố miền cao nguyên Việt Nam. Tất nhiên, tôi đã không bỏ lỡ cơ hội gặp mặt những bằng hữu thân quen của trang mạng TV&BH. Buổi gặp gỡ được hẹn tại một quán cà phê. LN bảo sẽ có mặt tác giả “Thắp Tình”(1969), nhà thơ Thành Tôn.

Vợ chồng tôi đến hơi sớm, loay hoay tìm một nơi vừa đủ ngồi cho nhiều người, vừa tránh những cơn gió khó chịu của tháng 5 Cali. Ở một góc quán, có một vị quá trung niên (thượng niên chăng?), ăn mặc rất nghiêm chỉnh, áo sơ mi dài tay cài nút gọn ghẽ, mặt vuông chữ điền, mắt sáng tia ấm áp, chiếu những ánh dò hỏi về phía vợ chồng tôi. Có lẽ chúng tôi quen nhau đâu đó trong khoảng thời gian mấy chục năm đoạn trường vừa qua chăng? Bạn học? bạn lính? bạn tù? Tôi cố moi trong trí nhớ ánh mắt ấm áp đó. Nhưng chịu. Tên mình và ngày tháng năm sinh đôi khi còn phải ngừng lại vài giây suy nghĩ trước khi trả lời người đối diện thì làm sao nhớ được một ánh mắt của nhiều năm trước, nhiều kiếp trước.

Khi người bạn trẻ LN, nhà thơ Nguyễn Đình Toàn và chị Hồng Ngọc xuất hiện trước cửa quán thì tôi thấy vị trung (thượng) niên mặt vuông chữ điền đứng dậy bắt tay chào hỏi. Tôi đoán hẳn phải là trung (thượng) niên thi sĩ Thành Tôn mà LN đã nói trước. Quả đúng thế. Tác giả “Thắp tình”, bằng cái giọng Quảng Nam sang sảng, vừa cười vừa đáp lại lời giới thiệu của người bạn trẻ LN rằng ông đã nhận ra tôi từ lúc vợ chồng tôi đang loay hoay tìm chỗ ngồi. Chỉ có điều ông tế nhị không nói ra là nhìn cái điệu bộ lúng ta lúng túng và khép nép ngờ nghệch kiểu “Tư Ếch đi Xè Gòong” kia thì ai chẳng biết đó là gã nhà quê xứ khỉ ho cò gáy vừa lên tỉnh như thông báo của LN.




2.

Thành Tôn là một cái tên không hẳn là xa lạ với những người đọc các tạp chí Bách Khoa, Văn Học, Văn, Hành Trình… của văn học miền Nam trước 1975. Tập thơ “Thắp Tình” của ông xuất bản tháng 8 năm 1969, mà theo một người bạn của ông kể lại, “là một tập thơ rất đặc biệt trong công việc ấn loát. Tác giả của nó đã bỏ tâm huyết và công sức một cách trọn vẹn vào các khâu: trình bày bìa, sắp chữ, đạp máy in, đóng, cắt và phát hành. Công việt thật nhiêu khê, tỉ mỉ như vậy, tôi tin chắc chưa có một nhà thơ Việt Nam nào đủ chân tình và khả năng để thực hiện…” (Thắp Tình Thành Tôn – Hà Khánh Quân).

Như những người cùng trang lứa, sau tháng tư năm 1975, Thành Tôn cũng đã mất gần tám năm tuổi trẻ trong các trại cải tạo. Cùng với gia đình, ông định cư tại Mỹ từ năm 1996, nhưng không còn thấy thơ (văn) mang tên Thành Tôn xuất hiện trên các tạp chí văn học hải ngoại, dù là báo in hay báo mạng. Về chi tiết này, nhà văn Trần Yên Hòa, một người cùng quê với ông đã viết : “Thành Tôn dạo sau này không làm thơ nữa. Anh vẫn nói: “Làm thơ như vậy đủ rồi. Bây giờ mình thấy làm thơ không hay, thôi không làm thơ nữa”. Tôi biết Thành Tôn muốn người đọc hãy đọc những bài thơ của anh ngày cũ trong Thắp Tình, để thấy một vóc dáng thơ Thành Tôn. Như người đàn bà đẹp chỉ muốn người ta nhìn ngắm nhan sắc mình khi còn tuổi xuân thì phơi phới…” (Thành Tôn: Một thời làm thơ, một đời mê sách-Trần Yên Hòa).

Với riêng tôi, tập thơ “Thắp Tình” của Thành Tôn ra đời năm tôi chưa biết vị đắng, vị ngọt của yêu đương, của nụ hôn đầu đời như thế nào, nên cũng không có dịp đọc tập thơ. Mặt khác, thuở ấy, cái tên Thành Tôn cũng chỉ thoáng ẩn thoáng hiện qua những bài thơ đăng rải rác trên các tạp chí văn học Sài Gòn mà tôi đọc nhưng dấu ấn của chúng không ở lại lâu. Có lẽ lúc ấy, con ma chiến tranh lớn quá, khủng khiếp quá, nên nó đã chi phối trọn vẹn đời sống – cả tinh thần lẫn vật chất – của thế hệ chúng tôi vừa mới chân ướt chân ráo bước vào đời, nên tâm trí đâu dành cho những con chữ vốn bị người đời coi như “sách vở ích gì cho buổi ấy“.

Ngày ấy, không ai trong chúng tôi nghĩ mình sẽ sống sót qua cuộc chiến tranh, cũng không hề có trong đầu viễn tượng mình sẽ phải sống qua một thời tù đày, rồi bỏ xứ ra đi sống trên mảnh đất xa lạ như hôm nay.
Nói gì đến thơ, đến chữ, đến sách, đến vở…


3.

Giờ đây, ngồi trước mặt Thành Tôn, trong trí tôi không có một chút vốn liếng thơ văn nào của ông để mở đầu câu chuyện làm quà, ngoài tên tập thơ còn nhớ được đã là may mắn lắm rồi. Không đồng hương đồng khói. Không đồng học đồng tù. Nhưng tôi đã không phải bận tâm lâu hơn khoảng thời gian vừa đủ để nhấp một ngụm cà phê của buổi trưa Cali hanh gió.

Cái giọng Quảng Nam sang sảng, cởi mở, vào chuyện tự nhiên như thể đây không phải là lần thứ nhất chúng tôi ngồi bên nhau chuyện trò. Và từ đôi mắt chiếu những tia ấm áp, chân tình kia, tôi đánh mất ngay cảm giác nhà quê lên tỉnh của anh chàng Tư Ếch tội nghiệp.

Chưa hết. Bằng một vẻ trịnh trọng như chính vẻ ngoài nghiêm túc trịnh trọng của nhà thơ, Thành Tôn mở túi xách bên cạnh ông, lấy ra quyển sách nhỏ, mỏng, mang hình dáng một tập thơ. Ông đưa cho tôi và bảo đây là món quà tri ngộ tặng người mới quen. Rồi ông thao thao bất tuyệt nói về sự mù tịt kỹ thuật máy tính của mình nhưng lại khéo tay khéo chân trong việc tái tạo những quyển sách có số tuổi già hằng nửa thế kỷ. Như tập thơ ông vừa tặng tôi. Nó ra đời năm 1962 tại Sài Gòn. Ban đầu tôi tưởng đây là một bản sao tập thơ “Thắp Tình” của Thành Tôn. Nhưng lại là bản sao tập thơ “Mật Đắng” của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn đang ngồi tủm tỉm cười bên kia bàn. Bản chính lần thứ nhất xuất bản năm 1962 của tập thơ , Thành Tôn mua lại được trong những lần lục lọi chồng sách cũ của Sài Gòn sau khi được tha về từ trại cải tạo. Ông đã tìm mọi cách mang tập thơ qua Mỹ khi lên đường đi định cư, và trân trọng trao lại cho tác giả để “châu về hiệp phố”. Quả là cử chỉ nghĩa hiệp của một người yêu chữ, yêu sách. Tập thơ Mật Đắng của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn không phải là trường hợp đầu tiên của  châu về hiệp phố mà Thành Tôn đã thực hiện.

Theo nhà thơ Trần Yên Hòa : “Có thể nói anh là một người có đầy đủ sách nhất. Điều này tôi chỉ biết qua nhận xét của tôi thôi. Anh mua đủ loại sách, dù có những quyển sách anh không thích nhưng anh vẫn mua về để làm tài liệu. Những sách cũ của các tác giả xuất bản ở VN truớc 1975, qua cuộc đổi đời 75, khi ra đi không mang theo đuợc. Thế mà hỏi Thành Tôn, anh lại có, như những tập thơ của Du Tử Lê chẳng hạn. Khi Du Tử Lê in toàn tập thơ Du Tử Lê, Thành Tôn đã cung cấp cho Du Tử Lê những tập thơ cũ mà Du Tử Lê không còn. Hay bây giờ, nếu một bạn văn nào đó cần tài liệu cũ, Thành Tôn đều có và cho mượn ngay. Đến nhà anh, anh cho xem những tác phẩm của các nhà xuất bản An Tiêm, Ca Dao, Lá Bối… mà anh đã đem theo và còn cất giữ, mới thấy được hết tấm lòng của Thành Tôn đối với chữ nghĩa, sách vở. Anh kể, khi anh đi Mỹ, quan trọng nhất là 2 thùng sách anh mang theo, sau đó mới là những vật dụng cá nhân cho gia đình.

… Nhà thơ Thành Tôn còn cho thấy, ông luôn sẵn sàng chia sẻ, cho đi, những gì ông có. Dù đó là những cuốn sách mà ông sưu tầm, nâng niu, như những đứa con quý báu nhất của ông” (Thành Tôn: Một thời làm thơ, một đời mê sách – Trần Yên Hòa).

Cầm tập thơ phó bản “Mật Đắng” của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn trên tay, lần giở từng trang và đọc lại những bài thơ kỷ niệm của một thời, tôi thấy vị Trung (thượng) niên thi sĩ ngồi bên cạnh tôi quả thực thật đáng yêu vì những gì ông đã làm. Với tôi, đây là bài thơ đầy ý nghĩa của một người yêu sách yêu chữ hết lòng hết sức, chỉ biết cho đi làm niềm vui lúc nào cũng lấp lánh trong đôi mắt đầy những tia nắng ấm áp kia.

Vậy thì Thành Tôn đâu cần phải tiếp tục làm thơ mới được người đời … tiếp tục gọi là thi sĩ.

Hơn nửa thế kỷ trước, nhà thơ đã tự mình “trình bày bìa, sắp chữ, đạp máy in, đóng, cắt và phát hành” cho tập thơ đầu đời của mình. Nay, bất chấp thế giới kỹ thuật đang chi phối mọi lãnh vực đời sống ngoài kia, nhà thơ của chúng ta vẫn miệt mài với chụp, cắt, dán, đóng những trang sách cũ bằng đôi tay khéo léo của mình. Chỉ để mang niềm vui đến cho anh em bằng hữu thân sơ.

Chẳng phải đó cũng là ước muốn của thi nhân khi chau chuốt từng vần thơ gởi đến cho đời hay sao?

T.Vấn
Nguồn: Thư Viện Sáng Tạo

Monday, June 27, 2016

2390. PHẠM CAO HOÀNG Mười hai bài lục bát


Phạm Cao Hoàng • Đà Lạt, January 2012 • Photo by CH




TRẦN HOÀI THƯ XUỐNG NÚI


còi tàu hụ nhớ giang hồ
lên ga khuya lạnh gió mờ mịt xa
(Đinh Cường) 


rồi chàng xuống núi xuôi nam
từ cơn khổ nạn ba năm quay về
ngày về râu tóc bạc phơ
người muôn năm cũ bây giờ ở đâu (*)
ngày về ngang qua bãi dâu
chợt thương ngọn sóng bạc đầu năm xưa
cụng ly để nhớ giang hồ
cạn ly để biết đời chưa muộn màng
ngày về phương nam lang thang
đọc bài thơ cũ rền vang núi rừng
Scibilia, đêm cuối cùng
là đêm bằng hữu cùng chung nỗi buồn
Virginia, đêm mùa đông
chàng về kịp viết mấy dòng chia tay

Virginia, 13.1.2016
Ngày Trần Hoài Thư về Virginia tiễn đưa anh Đinh Cường

(*) Thơ Vũ Đình Liên


Nguyễn Đình Thuần  Phạm Nhuận  Phạm Cao Hoàng  Trần Hoài Thư  Đặng Đình Khiết
Vienna, Virginia • 13.1.2016



CŨNG MAY CÒN CÓ NƠI NÀY


rồi em và tôi đi xa
mang theo hình bóng quê nhà thân thương
bây giờ đời đã muộn màng
nửa vòng trái đất lang thang quê người
xa quê hương em và tôi
cùng chia nhau những ngọt bùi đắng cay
cũng may còn có nơi này
có mây có khói có cây cỏ và
có rừng Scibilia
để tôi còn nhớ chút Đà Lạt xưa
để còn mơ một ngày về
đi về phía Ngã Ba Chùa cùng em
đi tìm lại chút êm đềm
đoạn serenade và đêm thơ tình
nụ cười em lúc bình minh
bàn tay rất ấm hôm mình quen nhau
và căn nhà thuở ban đầu
bức tranh và những gam màu tôi yêu
đi tìm lại những buổi chiều
qua cây cầu nhỏ tôi theo em về
đi tìm lại những đam mê
những hò hẹn những đợi chờ ngất ngây
cũng may còn có nơi này
để tôi còn có những ngày bên em

Virginia, March 2015


Rừng Scibilia, Virginia • Photo by PCH • January, 2016 



MÂY NGỪNG BAY


Chia tay anh Nguyễn Xuân Hoàng


cũng đành thôi, nắng tắt rồi
mặt trời đã lặn, ngày vui đã tàn
một vì sao – Nguyễn Xuân Hoàng
vừa đi vào cõi vĩnh hằng sáng nay
cũng đành thôi, mây ngừng bay
trái tim ngừng đập, bàn tay vẫy chào
biết đời là giấc chiêm bao
mà sao lòng vẫn thấy đau vô cùng
cũng đành cạn một dòng sông
người đi là mãi mãi không quay về
bên kia là phía hư vô
trăm năm còn lại nấm mồ hư không

Virginia, September 13, 2014



Chân dung Nguyễn Xuân Hoàng
dinhcuong



NGÀY TÔI TRỞ LẠI MIỀN ĐÔNG


ngày tôi trở lại miền đông
tôi mang theo một nụ hồng cao nguyên
 
vẫn là tôi, vẫn là em
vẫn khu vườn cũ, vẫn thềm nhà xưa
đi cùng tôi nhé, Cúc Hoa
trên con đường mịt mù mưa xứ người
và xin cảm tạ đất trời
đã cho em lại nụ cười hồn nhiên
đi cùng tôi, giọt sương đêm
nhẹ nhàng như nhạc và hiền như thơ
mơ cùng tôi nhé, Cúc Hoa
giấc mơ Đà Lạt thời chưa biết buồn
 
vẫn là tôi, vẫn là em
vẫn khu rừng lạnh tiếng chim gọi đàn
vẫn là mây trắng ngàn năm

Virginia, March 17, 2013


Cúc Hoa, giấc mơ Đà Lạt thời chưa biết buồn
dinhcuong • 17.3.2013



MƯỜI BA NĂM QUI CỐ HƯƠNG


ngủ đi em, đêm khuya rồi
sớm mai thức dậy cùng tôi lên đường
mười ba năm – qui cố hương
có đi biền biệt vẫn thương quê nhà
vẫn thương dưa mắm tương cà
thương con cò trắng bay qua cánh đồng
vẫn mơ về một dòng sông
nơi cha thương mẹ nơi ông thương bà
vẫn mơ về đất và hoa
nơi tôi đã gặp em và thương em
những ngày những tháng êm đềm
em trao tôi cả trái tim thật thà
ngủ đi em, đêm đã khuya
sớm mai thức dậy mình về Việt Nam

Virginia, January 7, 2012


13 năm – qui cố hương • Đà Lạt, January 2012 • Photo by Minh Lân



ĐÃ QUA RỒI MỘT MÙA ĐÔNG


hôm em ở bệnh viện về
cụm hoa trước ngõ cũng vừa ra bông
đã qua rồi một mùa đông
và qua rồi những ngày không tiếng cười
em đi xe lăn mà vui
lăn đi em nhé cho đời bớt đau
tôi đưa em ra vườn sau
để nhìn lại mấy luống rau em trồng
hái tặng em một đóa hồng
và chia nhau nỗi long đong xứ người
em đi xe lăn mà vui
lăn đi em nhé cho vơi nỗi buồn
đưa em về phía con đường
có con sóc nhỏ vẫn thường chào em
hát em nghe bài Je t’aime
kể em nghe lại chuyện tình Cúc Hoa

em đi xe lăn về nhà
mùa xuân nhè nhẹ bước qua bậc thềm

Virginia, March 2012


Đã qua rồi một mùa đông • Photo by PCH • January 2012



BÂY GIỜ


bây gi nh núi nh rng
nh sông nh bin nh trăng quê nhà
thương em ngày nng Tuy Hòa
chiu mưa Đc Trng, sáng Đà Lt sương
thương em và nhng con đường
mt thi tôi đã cùng em đi v

bây gi l đt l quê
bước chân phiêu bc biết v nơi đâu (*)
thương em nng dãi mưa du
đau cùng tôi vi ni đau riêng mình
chia cùng tôi mt chút tình
ca ngàn năm trước và nghìn năm sau

v đâu chng biết v đâu
thôi thì v li bui đu gp em
dòng sông xưy êm đm
mùa thu năm y bên thm lá bay
bàn tay nm cht bàn tay
dìu nhau qua nhng tháng ngày gian nan

bây gi ngi nh Vit Nam
bên tri tuyết lnh hai hàng l rơi

Virginia 2009

(*) PHIÊU BẠC [飄泊

Tuyết ở Scibilia • Photo by PCH • January 2016



DÙ SAO VẪN CÁM ƠN ĐỜI


Tặng anh Trần Hoài Thư

 
dù sao vn cám ơn đi
c cây và gió mt tri và hoa
cám ơn nhng đám mây xa
đang bay v phía quê nhà chiu nay
cám ơn nhng sm heo may
lnh se st lnh bên này đi dương
cám ơn git nng vô thường
lung linh  cui con đường kh đau

mười năm nước chy qua cu
chuyn v đt nước là câu chuyn bun
mười năm sng kiếp tha phương
thân nơi bin bc mà hn bin đông
mười năm thương rung nh đng
lòng còn  li sao không quay v
m
ười năm nh đt thương quê
bước đi mt bước nng n đôi chân
mười năm mt thoáng phù vân
tiếng chim vườn cũ mùa trăng quê người

dù sao vn cám ơn đi
bin xanh và sóng núi đi và em
cám ơn nhng sáng êm đm
khói cà phê quyn bên hiên nhà mình
đng bên b vc t sinh
vn nghe em hát bn tình ca xưa

mười năm như mt gic mơ

Virginia, 2009


Đường Saigon mùa thu • Photo by PCH • Virginia, October 2015


MÂY TRẮNG


Tặng anh Trần Huiền Ân


ngày đi v phía mt tri
tôi nghe tiếng gi ca người năm xưa
và nghe tiếng m ơ
bên dòng sông vi đôi b qunh hiu
xóm thôn mt thu tiêu điu
gian nan cùng vi cuc phiêu lãng này
ngày v trng hai bàn tay (*)
người v ôm ly cm mây trng bun
khói ngày xưy còn vương
sương còn đng li bên dòng c thi
ngày v nh lúc ra đi
bin gào lên khúc bit ly sao đành
vy mà… 
biền biệt bao năm

Virginia, 2009
(*) BÀI HÁT NGÀY VỀ, thơ Trần Huiền Ân


Trần Huiền Ân & Phạm Cao Hoàng • Tuy Hòa, 1971



THỨC CÙNG EM ĐÊM NAY


thức cùng em hết đêm nay
chia nhau hơi ấm chờ mai lên đường
là khi mình xa quê hương
ra đi cùng với nỗi buồn Việt Nam
là khi chia tay Lang Biang
chia tay những đám mây bàng bạc trôi
là khi từ biệt núi đồi
những con đường của một thời thanh xuân
là khi mắt lệ tần ngần
đứng bên con dốc Nhà Làng ngẩn ngơ
là khi sương đẫm mặt hồ
nơi còn dấu vết bài thơ ban đầu
là khi chân bước qua cầu
mắt còn nhìn lại phía sau quê nhà
là khi mình sẽ đi xa
sẽ phiêu giạt mãi như là mây bay
thức cùng em hết đêm nay
chia tay Đà Lạt rồi mai lên đường

Đà Lạt, 25.11.1999


Chia tay nhũng đám mây bàng bạc trôi
Photo by PCH • Đà Lạt, November 1999



NGƯỜI THI SĨ ẤY KHÔNG CÒN LÀM THƠ


mười năm và mười mùa đông
trong hơi thở có hương nồng em trao
có tình em rất ngọt ngào
trong  veo như giọt sương đèo Prenn
nồng nàn như đêm Lâm Viên
như  Đà Lạt với lời nguyền năm xưa
tôi và em vẫn đi về
trên con đường có nhiều hoa dã quỳ
có hò hẹn thuở tình si
có gian nan có nhiều khi rất buồn

mười năm và mười mùa đông
người thi sĩ ấy không còn làm thơ
còn chăng là tiếng ngựa thồ
thở khi lên dốc bụi mờ mịt bay
còn chăng là hai bàn tay
đã chai sạm với tháng ngày gian nan
còn chăng là mây lang thang
trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông
còn chăng là đêm mênh mông
người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi

Đà Lạt, 1985


Phạm Cao Hoàng by Nguyễn Trọng Khôi • Virginia, 2011



SAU CHIẾN TRANH TRỞ LẠI TUY HÒA


khi về thăm lại cố hương
thấy quê nhà nghĩ càng thương quê nhà
hắt hiu một bóng mẹ già
một ngôi mộ cỏ xanh và khổ đau
bâng khuâng một chút vườn sau
ngậm ngùi ngõ trước lao xao nắng vàng
đã qua chưa cuộc điêu tàn
đám mây năm cũ biết tan nơi nào

Tuy Hòa, 1976


Thấy quê nhà nghĩ càng thương quê nhà
Photo by PCH • Tuy Hòa, January 2012




BẤM VÀO DÒNG CHỮ OLDER POSTS
NGAY DƯỚI ĐÂY ĐỂ ĐỌC NHỮNG BÀI TRƯỚC